TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 355/2023/HSST Ngày: 15/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hữu Thái
- - Các hội thẩm nhân dân: ông Vũ Anh Tuấn – ông Trần Quốc Đấu
- - Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: bà Tăng Thị Mỵ N - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 332/2023/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 418/2023/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 10/10/1984, nơi sinh: thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; H và tên cha: Nguyễn Văn D; sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; Vợ: Bùi Thị C, sinh năm 1988; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022; A, chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/06/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và án phí HSST 200.000 đồng, tại bản án HSST số 267/2020/HS-ST, chấp hành hình phạt tù xong ngày 17/06/2021, thi hành xong án phí HSST ngày 25/06/2020. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay – có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Công L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 10/10/1981, nơi sinh: thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đ1, sinh hoạt Đảng tại Chi bộ tổ dân phố G1, thuộc Đảng bộ thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Họ và tên cha: Phạm Xuân Q; sinh năm 1949; Họ và tên mẹ: Phan Thị N1, sinh năm 1949; Vợ: Đặng Thị Thanh G, sinh năm 1982; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012; Anh, chị em ruột: có 4 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay - có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Đinh Bạt Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 10/02/1992, nơi sinh: huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; H và tên cha: Đinh Bạt D1; sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1963; Vợ: Võ Thị H1, sinh năm 1992; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018; Anh, chị em ruột: có 4 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Cao Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 05/06/1990, nơi sinh: huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đ1, sinh hoạt Đảng tại Chi bộ sản xuất, thuộc Đảng bộ Công ty cổ phần M1 (bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); Họ và tên cha: Cao Văn T2; sinh năm 1969; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị T3, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị L1, đã chết; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Anh, chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay – có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Văn T4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 05/01/1989, nơi sinh: huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân vệ sinh môi trường; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; H và tên cha: Nguyễn Văn N2; sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1961; Vợ: Hồ Thị H2, sinh năm 1992; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020; A, chị em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến nay.
6. Họ và tên: Nguyễn Văn T5; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh ngày: 04/07/1987, nơi sinh: thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm I, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Công nhân Công ty M1; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; H và tên cha: Nguyễn Văn Q1; sinh năm 1956; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1957; Vợ, con: chưa có; Anh, chị em ruột: có 7 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/09/2023 đến ngày 12/09/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay – có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 05/09/2023, Phạm Công L và Nguyễn Văn M, rủ nhau đến lán trực tập kết rác của Công ty Môi trường thành phố M1, đường L thuộc khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An để đánh bạc. Khi vào lán, Phạm Công L lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài màu xanh có sẵn trong lán để đánh bạc. Phạm Công L và Nguyễn Văn M đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng”, được thua bằng tiền, thống nhất với nhau đặt “tẩy” 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) và được phạt tiền từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Phạm Công L và Nguyễn Văn M đánh bạc được một lúc thì có Đinh Bạt Đ đến lán cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 15 phút sau, Cao Văn T1 và Nguyễn Văn T4 đến lán cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày Nguyễn Văn T5 đến lán cùng tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc, các đối tượng ngồi vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, lần lượt là Phạm Công L, Cao Văn T1, Đinh Bạt Đ, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T5. Đến 0 giờ 30 phút, ngày 06/9/2023, khi các đối tượng trên đang đánh bạc thì bị Công an phường Q, thành phố V phát hiện, bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, màu xanh, gồm 52 quân bài, đã qua sử dụng; số tiền 5.060.000 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng); thu giữ trong người của Phạm Công L số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) và thu giữ trong người của Đinh Bạt Đ số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “liêng” của các đối tượng được xác định cụ thể như sau:
Trước khi chia bài, người chơi bỏ ra giữa chiếu bạc số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) gọi là đặt “Tẩy”; người chơi sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, xóc kỹ chia đều cho mỗi người chơi 3 quân bài. Sau khi chia bài xong thì người chơi cầm bài lên và “Tố” (Phạt tiền), số tiền “Tố” từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), ai không “Tố” thì bỏ ván bài đó và chịu mất số tiền đặt “Tẩy”. Thứ tự đánh theo ngược chiều kim đồng hồ, người chia bài được quyền “Tố” trước, sau đó đến người ngồi liền kề bên cạnh. Sau khi “Tố” thì người nào có số tiền “Tố” cao nhất mà không có người theo thì người đó thắng ván bài đó. Sau khi “Tố” mà người chơi có số tiền “Tố” ngang nhau thì mở bài tính điểm để phân định thắng thua. Người nào thắng sẽ được quyền thu toàn bộ số tiền đặt “Tẩy” và số tiền mà người chơi “Tố” ở giữa chiếu bạc. Trong hình thức đánh bài “Liêng” quy định cách tính thắng thua từ cao đến thấp theo thứ tự là bài “Sáp”, bài “Liêng”, bài “Ảnh”, bài tính “điểm”; cụ thể: 3 quân bài hàng ngang trong cùng tứ quý gọi là “Sáp”, trong đó “Sáp A, A, A” là lớn nhất, “Sáp 2, 2, 2” là nhỏ nhất; 3 quân bài liên tiếp nhau gọi là “Liêng”, trong đó “Liêng Q, K, A” là lớn nhất, “Liêng A, 2, 3” là nhỏ nhất; bài “Ảnh” là 3 quân bài có hình người bất kỳ không liên tiếp nhau, trong đó bài “Ảnh” lớn nhất là có 2 quân bài K, bài “Ảnh” nhỏ nhất là có 2 quân bài J; bài tính “Điểm” thì 9 “Điểm” là lớn nhất, 1 “Điểm” là nhỏ nhất. Các quân bài “10, J, Q, K” sẽ tính là “0 điểm”, quân bài A tính là “01 điểm”. Trong mỗi ván bài nếu người chơi có bài “Liêng”, bài “Ảnh”, bài tính “điểm” ngang nhau thì phân thắng thua bằng lá bài có chất cao nhất theo thứ tự lớn đến nhỏ là R, C1, C2, B. Người nào thắng sẽ được chia bài và được quyền “Tố” đầu tiên ở ván tiếp theo.
Quá trình điều tra xác định số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc như sau:
- - Đinh Bạt Đ khai sử dụng số tiền 1.930.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi vào đánh bạc, Đ lấy ra số tiền 680.000 đồng (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng) đánh bạc, còn lại số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) cất trong người để khi đánh hết sẽ dùng tiếp. Khi bị bắt quả tang, tổ công tác Công an thu giữ trong người Điệp số tiền 1.250.000 đồng.
- - Phạm Công L khai sử dụng số tiền 1.630.000 đồng (Một triệu sau trăm ba mươi nghìn đồng), để đánh bạc. Khi vào đánh bạc, L lấy ra số tiền 1.280.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) để đánh bạc, còn lại số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), cất trong túi quần bên phải phía trước, khi đánh hết sẽ lấy số tiền này ra đánh tiếp. Khi bị bắt quả tang, L vứt số tiền đánh bạc vào chiếu bạc, không rõ thắng thua. Còn số tiền 350.000 đồng để trong túi quần bị thu giữ.
- - Nguyễn Văn M khai sử dụng số tiền 1.030.000 đồng (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, M đang để tiền tại chiếu bạc, không nhớ rõ số tiền thắng thua.
- - Nguyễn Văn T4 khai sử dụng số tiền 660.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T4 vứt toàn bộ số tiền đánh bạc vào chiếu bạc nên không rõ số tiền thắng, thua.
- - Cao Văn T1 khai sử dụng số tiền 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T1 vứt toàn bộ số tiền đánh bạc vào chiếu bạc nên không rõ số tiền thắng, thua.
- - Nguyễn Văn T5 khai sử dụng số tiền 580.000 đồng (Năm trăm tám mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T5 vứt toàn bộ số tiền đánh bạc vào chiếu bạc nên không rõ số tiền thắng, thua.
Ngày 08/09/2023, cơ quan CSĐT Công an T6 Quyết định trưng cầu giám định số tiền 6.660.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và trong người của các đối tượng. Ngày 14/09/2023, Phòng K Công an tỉnh N ban hành kết luận số 337/KL-KTHS (Đ3-TL):
“Số tiền 6.660.000 (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) (có bảng kê, mệnh giá, mã số hiệu kèm theo) gồm: 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 09 (chín) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); 17 (mười bảy) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); 20 (hai mươi) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng); 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng); 08 (tám) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng); gửi giám định là tiền thật”.
Như vậy, tổng số tiền các đối tượng Phạm Công L, Cao Văn T1, Đinh Bạt Đ, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T5 sử dụng để đánh bạc là 6.660.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tại cơ quan điều tra, các đối tượng: Phạm Công L, Cao Văn T1, Đinh Bạt Đ, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Việc thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân màu xanh. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vinh; Số tiền 5.060.000 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ tại chiếu bạc; Số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong người Định Bạt Đ; Số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của các đối tượng; Hiện số tiền trên được niêm phong và gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N theo biên bản giao nhận tài sản số 66/2023/BBBG-KBNA (VNĐ) và phiếu nhập kho, nhập TK: 9911 ngày 19/09/2023.
Tại Bản cáo trạng số 355/VKS-HS ngày 11/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Công Lợi, Đinh Bạt Điệp, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 về tội “đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn M từ 18 tháng đến 21 tháng cải tạo không giam giữ, xử phạt các bị cáo Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Theo khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự thì trong trường hợp người bị cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự
Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xử lý vật chứng là: Áp dụng Điểm a Khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân quân bài màu xanh, đã qua, đã qua sử dụng vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số NK 2024/25 ngày 24/10/2023. Tịch thu sung quỹ nhà nước 6.660.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm sáu mươi ngàn đồng) hiện đã được nộp vào kho bạc Nhà nước tỉnh N (Vật chứng hiện có tại Kho bạc nhà nước tỉnh N theo Phiếu nhập kho số 9911 ngày 19/09/2023 của Kho bạc nhà nước N và theo biên bản giao nhận tài sản số 66/2023/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 19/09/2023
Tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 khai nhận như sau: Vào hồi 0 h30 phút, ngày 06/09/2023, tại lán trực tập kết rác của Công ty Môi trường thành phố M1, đường L thuộc khối A, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, các đối tượng Phạm Công L, Cao Văn T1, Đinh Bạt Đ, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T5 đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “liêng”, phạt tiền mỗi ván từ 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) đến 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 6.660.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 theo khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây bất bình trong cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, để giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội cần thiết phải xét xử và áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 không có có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Văn M có nhân thân về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Vì vậy, các bị cáo Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bản thân bị cáo Nguyễn Văn T5 được UBND thành phố V danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2022, gia đình có công với cách mạng; bị cáo Cao Văn T1 được UBND thành phố V danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2021; bị cáo Đinh Bạt Đ được UBND thành phố V danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2019; các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo Phạm Công L có công với cách mạng, tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo khác tham gia với vai trò là người thực hành. Khi quyết định hình phạt, cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ.
Đối vớị cáo Nguyễn Văn M có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc không lớn nên cần xem xét cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục đối bị cáo, các bị cáo hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn M bị tạm giữ 6 ngày nên được trừ đi 18 ngày cải tạo không giam giữ.
Đối với bị cáo Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 áp dụng hình phạt tiền như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.
[3] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân quân bài màu xanh, đã qua, đã qua sử dụng vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số NK 2024/25 ngày 24/10/2023. Tịch thu sung quỹ nhà nước 6.660.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm sáu mươi ngàn đồng) hiện đã được nộp vào kho bạc Nhà nước tỉnh N (Vật chứng hiện có tại Kho bạc nhà nước tỉnh N theo Phiếu nhập kho số 9911 ngày 19/09/2023 của Kho bạc nhà nước N và theo biên bản giao nhận tài sản số 66/2023/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 19/09/2023.
[4] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[5] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ đi 18 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho UBND xã N, thành phố V, Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Theo khoản 4 điều 36 Bộ luật hình sự thì trong trường hợp người bị cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự
Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt: Phạm Công Lợi 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm i, s, v khoản 1 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt: Đinh Bạt Điệp 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm i, s, v khoản 1 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt Cao Văn T1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm i, s, v khoản 1 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt Nguyễn Văn T5 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
Căn cứ vào điều 17, điều 58, khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015
Xử phạt Nguyễn Văn T4 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng)
[3] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân quân bài màu xanh, đã qua, đã qua sử dụng vật chứng hiện được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số NK 2024/25 ngày 24/10/2023. Tịch thu sung quỹ nhà nước 6.660.000 đồng (sáu triệu, sáu trăm sáu mươi ngàn đồng) hiện đã được nộp vào kho bạc Nhà nước tỉnh N (Vật chứng hiện có tại Kho bạc nhà nước tỉnh N theo Phiếu nhập kho số 9911 ngày 19/09/2023 của Kho bạc nhà nước N và theo biên bản giao nhận tài sản số 66/2023/BBBG-KBNA (VNĐ) ngày 19/09/2023.
[4] Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
[5] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Các bị cáo Nguyễn Văn M, Phạm Công L, Đinh Bạt Đ, Cao Văn T1, Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn T5 có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Thái |
Bản án số 355/2023/HSST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 355/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M cùng đồng phạm bị xét xử về tối "đánh bạc"
