|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 355/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/9/2024.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm
Bà Nguyễn Thị Bích Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 273/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 424/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 274/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Trung H, sinh năm 1987,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu K, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở hiện nay: Malaysia.
Người được anh H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Anh Đoàn Hồng H1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu dân cư K, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Malaysia
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phương Thị N, sinh năm 1971, địa chỉ: Khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Anh H, chị T, anh H1 và bà N đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai anh Phạm Trung H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H), huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 11/12/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống cùng bố mẹ anh tại: Khu K, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Để phát triển kinh tế gia đình thì năm 2015 anh và chị T cùng đi xuất khẩu lao động tại Malaysia. Thời gian đầu khi sang Malaysia thì vợ chồng chung sống cùng nhau nhưng giữa anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống cũng như việc làm ăn phát triển kinh tế. Nhưng để giữ gìn hạnh phúc gia đình và do chị chị T có bầu con thứ hai nên vợ chồng dù không còn tình cảm nhưng vẫn cố gắng vun vén hạnh phúc gia đình. Năm 2018, chị T về Việt Nam sinh con nhưng không về nhà bố mẹ anh mà về nhà bố mẹ chị T tại Khu dân cư N, phường C, thành phố C sinh sống. Sau khi sinh con thứ hai chị T gửi con lại cho mẹ đẻ chăm sóc và quay lại Malaysia để tiếp tục công việc, vợ chồng tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng hơn. Đầu năm 2023, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là Phạm Gia H2, sinh ngày 10/6/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018, hiện nay cả hai con chung đang ở với mẹ đẻ của chị T là bà Phương Thị N, tại Khu dân cư N, phường C, thành phố C. Ly hôn anh đề nghị giao cả hai con chung chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, vợ chồng anh chị tự thỏa thuận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Chị Nguyễn Thị T trình bày thông qua mẹ đẻ là bà Phương Thị N: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng như anh H trình bày là đúng. Hiện nay chị đang làm việc tại Malaysia, các văn bản tố tụng Tòa án giao cho chị đề nghị giao cho mẹ chị là bà Phương Thị N, bà N sẽ nhận thay và thông báo lại cho chị được biết. Nay anh H có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung, quan điểm của chị là nhất trí ly hôn. Về con chung, chị xác định vợ chồng có 02 con chung cháu Phạm Gia H2, sinh ngày 10/6/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018. Chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung. Chị đề nghị anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/tháng/2 cháu). Trong thời gian chị ở nước ngoài, chị nhờ mẹ đẻ của chị là bà Phương Thị N thay chị chăm sóc các con chung cho đến khi chị về nước. Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng có tài sản chung là 01 mảnh đất diện tích 200m2 tại khu K, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; 01 ngôi nhà do vợ chồng anh chị xây dựng trên đất của bố mẹ chồng có giá trị khoảng 100.000.000 đồng. Ngoài ra vợ chồng chị còn có 02 sổ vay Ngân hàng là 100.000.000 đồng và 200.000.000 đồng, hiện nay anh H đang là người trả và ông Cao Văn H3 đang nợ vợ chồng
chị số tiền 380.000.000 đồng. Hiện nay chị chưa yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và nợ chung trên trong vụ án này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phương Thị N trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T, bà đã thông báo cho chị T về việc anh H có đơn xin ly hôn với chị T. Chị T nhờ bà chăm sóc 02 con chung Phạm Gia H2, sinh ngày 10/6/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018 cho đến khi chị T về Việt Nam, bà đồng ý. Chị T nhờ bà nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án, bà nhất trí.
* Người được anh Phạm Trung H ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng trình bày: Anh đã thông báo cho anh H về việc Tòa án thụ lý vụ án. Anh H có quan điểm đồng ý cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/tháng/2 cháu)
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh H và có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn chị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Phạm Trung H được ly hôn chị Nguyễn Thị T; Giao cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Gia H2, sinh ngày 17/8/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018 cho đến khi con chung trưởng thành. Anh H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị T là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/ tháng/2 cháu). Tạm giao cháu H2, cháu L cho bà Phương Thị N chăm sóc trong thời gian chị T đang lao động ở nước ngoài. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Anh Phạm Trung H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Nguyễn Thị T. Anh H và chị T hiện đều đang sinh sống và lao động tại Malaysia. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H không cung cấp được địa chỉ của chị T tại Malaysia. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh H và gia đình chị T cung cấp địa chỉ nhưng anh H không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định chị T có liên lạc về gia đình, gia đình chị T không cung cấp được địa chỉ của chị T tại Malaysia. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa anh H, anh H1 có quan điểm xin xét xử vắng mặt, chị T, bà N vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H, anh H1, chị T và bà N.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Trung H và chị Nguyễn Thị T được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là thị trấn H), huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 11/12/2012 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì cùng sang Malaysia lao động. Vợ chồng chung sống bên nước ngoài thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn vợ, anh chị đã cố gắng hàn gắn nhưng đến năm 2023 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ thời điểm này và không còn quan tâm đến nay. Nay anh H xác định không còn tình cảm với chị T và có đơn xin ly hôn, chị T có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh H, chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh H được ly hôn chị T là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh H và chị T có 02 con Phạm Gia H2, sinh ngày 10/6/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018. Ly hôn vợ chồng thống nhất để chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, anh H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị T là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/tháng/2 cháu).
Xét thấy, anh H, chị T cùng đang lao động ở nước ngoài, các cháu H2, cháu L đang có cuộc sống ổn định cùng gia đình của chị T ở Việt Nam. Cháu L còn nhỏ, cháu H2 có nguyện vọng được ở với mẹ, để ổn định cuộc sống của các con chung cần chấp nhận sự thỏa thuận của vợ chồng giao cho chị T được nuôi dưỡng chăm sóc con chung Phạm Gia H2 và Phạm Khánh L cho đến khi trưởng thành. Anh H cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị T là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/tháng/2 cháu). Chị T đang ở nước ngoài không trực tiếp chăm sóc được con chung có nhờ mẹ đẻ là bà Phương Thị N chăm sóc con chung thay chị, bà N và anh H đều nhất trí. Do đó, tạm giao cháu Phạm Gia H2, sinh ngày 17/8/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày
22/9/2018 cho bà N chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị T không có mặt tại Việt Nam.
Anh Phạm Trung H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh H xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị T cũng xác định vợ chồng có tài sản chung và nợ chung, Tòa án đã hướng và giải thích về việc nếu chị đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nhưng đến ngày Tòa án xét xử chị T có đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Như vậy, xác định các đương sự không có yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, trường hợp anh H và chị T có yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[3]. Về án phí: Anh H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định. Anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Trung H được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
-
Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Phạm Gia H2, sinh ngày 10/6/2013 và Phạm Khánh L, sinh ngày 22/9/2018 thời gian từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung trưởng thành. Anh Phạm Trung H phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị Nguyễn Thị T là 5.000.000đồng/tháng/cháu (10.000.000đồng/tháng/2 cháu) thời gian từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung trưởng thành.
Tạm giáo cháu Phạm Gia H2, Phạm Khánh L cho bà Phương Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị T không ở Việt Nam.
Anh Phạm Trung H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày chị T có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung nếu anh H chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Anh Phạm Trung H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000716 ngày 22/5/2024 (anh H đã nộp đủ án phí).
Anh H còn phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung (anh H chưa nộp).
4. Về quyền kháng cáo: Bà N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh H, chị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 355/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 355/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung H xin ly hôn Nguyễn Thị T và tranh chấp nuôi con chung
