Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 355/2024/DS-PT

Ngày: 05-8-2024

V/v tranh chấp “ quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

Bà Võ Thị Hồng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31 tháng 7 năm 2024 và 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm dân sự công khai vụ án thụ lý số: 562/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất” và “ Đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 143/2023/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim P, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Ấp A, A, thị xã T, Tây Ninh; (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim D là luật sư Văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; (có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú tại: Tổ B, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; (có mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn L, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh – Tòa án không triệu tập.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P trình bày:

Nguyên trước đây, bà P và bàNguyễn Thị Thúy H1 là bạn bè thân thiết với nhau. Vào tháng 04/2021, khi nghe bà P đề cập đến việc cần mua nhà để ở thì bà H1 nói đang có 01 căn nhà của anh họ cần bán với giá 1.470.000.000 (một tỷ bốn trăm bảy mươi triệu) đồng. Sau đó, bà H1 gửi ảnh nhà đất và sơ đồ đất để cho bà P xem. Bà P thấy phù hợp nên đồng ý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà của bà H1. Để đảm bảo thực hiện việc chuyển nhượng, bà P và bà H1 đã ký hợp đồng đặt cọc với nhau ngày 22/4/2021 có nội dung: số tiền đặt cọc là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng; thời hạn đặt cọc đến ngày 22/5/2021, nếu bà P từ chối mua đất thì mất cọc; nếu bà H1 từ chối bán thửa đất số 853 thì ngoài việc phải trả lại cho bà P số tiền cọc, chị H1 còn phải bồi thường cho bà P. Ngay sau khi ký hợp đồng đặt cọc, bà P đã giao cho bà H1 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Sau đó bà H1 nói cần tiền nên bà P đưa cho bà H1 thêm 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng (ngày tháng bà P không nhớ nhưng có ký trong giấy đặt cọc). Tổng cộng bà H1 đã nhận của bà P 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Đến ngày 22/5/2021 do bận việc nên bà P quên nhắc và bà H1 cũng không yêu cầu bà P đi công chứng hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó thì bà H1 hẹn lại bà P đến ngày 27/5/2021 sẽ ký hợp đồng. Ngày 27/5/2021, bà P ra công chứng hợp đồng với ông L và giao số tiền 970.000.000 (chín trăm bảy mươi triệu) đồng còn lại cho ông L tại ngày công chứng ở UBND phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vì bà H1 nói với bà P, bà H1 bán đất dùm ông L. Bà P giao tiền cho ông L ngoài hành lang nên không có ai chứng kiến, bà P cũng không có ký biên nhận giao tiền với ông L.

Sau đó, bà P tiến hành thực hiện thủ tục đăng ký để được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do bà P không có giấy độc thân nên không đứng tên được. Do đó, bà P nhờ bà H1 đứng tên dùm và được bà H1 đồng ý. Đến ngày 11/6/2021, bà P và ông L ký hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký ngày 27/5/2021, được Ủy ban nhân dân phường A chứng thực số 505/2021, Quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD để hủy hợp đồng chuyển nhượng trên. Đồng thời, để tránh việc tranh chấp về sau thì bà H1 làm giấy cam kết đứng tên dùm giấy đất và sẽ sang tên qua cho bà P khi bà P có đầy đủ giấy tờ, có bà Nguyễn Thị T là em ruột bà H1 làm chứng.

Sau khi hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên lại cho bà H1. Sau đó bà H1 thực hiện thủ tục đăng ký và được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy CNQSDĐ thì bà H1 giao bản chính giấy đất lại cho bà P, và hiện tại bà P đang giữ bản chính.

Về giấy bán nhà đất bà P ký với ông L có nội dung ông L nhận của bà P 1.470.000.000 (một tỷ bốn trăm bảy mươi triệu) đồng là do bà P để bà H1 đứng tên nên sợ mất nhà. Vì thế khoảng năm 2022, bà P có nhờ ông L ký tên và lăn tay, thực tế không có giao nhận tiền. Bà P viết tờ giấy này vào tháng 6 năm 2022.

Bà P có viết “chị Huỳnh Thị Kim P có nhận của chị Nguyễn Thị Thúy H là số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng”. Lý do ngày 04/6/2022, bà P và bà H gặp nhau tại quán cafe không tên gần thớt thịt bò của ông L (tại kênh B). Khi đến đó bà P gặp bà H, bà L1, ông L, ông T1, và người đàn ông không rõ họ tên. Lúc đó bà H nói nhà đứng tên là của bà H, và nói bà P lên Tòa án vu khống, do đó bà H sẽ lên tòa án kiện ngược lại bà P và yêu cầu bà P phải ghi nội dung “chị Huỳnh Thị Kim P có nhận của chị Nguyễn Thị Thúy H là số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng”. Vì sợ bà H đuổi ra khỏi nhà, trước việc bị cưỡng ép về mặt tinh thần nên bà P mới ghi nội dung “chị Huỳnh Thị Kim P có nhận của bà Nguyễn Thị Thúy H là số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng” theo yêu cầu của chị H, nhưng bà P không ký tên, không ghi họ tên và không nhận tiền. Lúc đó bà P có ra ngoài để gọi điện thoại cho người thân, khi vào thì bà P không thỏa thuận nên bà P không ký tên và ghi họ tên, giấy đó chị H tự giữ.

Nguyện vọng của bà P là yêu cầu Tòa án buộc bà H trả lại quyền sử dụng đất diện tích 345,2 m² thuộc thửa 853, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Bà P không có nợ bà H tiền nên không đồng ý trả tiền.

Bị đơn – bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Ngày 13/4/2021, bà và bà Nguyễn Thị Thanh H2 cùng nhau hùn vốn mua đất của ông Võ Văn L với diện tích 345,2 m² thuộc thửa đất số 853, tờ bản đồ số 17. Bà H2 và ông L đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy tay) với giá chuyển nhượng 1.360.000.000 (một tỷ ba trăm sáu mươi triệu) đồng. Bà H2 đã đưa tiền cọc cho ông L 02 lần, tổng cộng 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng; số tiền còn lại 960.000.000 (chín trăm sáu mươi triệu) đồng, hai bên thỏa thuận khi ra ký hợp đồng công chứng sẽ giao đủ.

Sau đó, bà H có cho bà P biết việc mua đất trên và bà cũng nói với bà P hiện bà chưa ký hợp đồng chuyển nhượng với ông L tại phòng công chứng. Bà P đề nghị bà bán lại diện tích đất trên cho bà P. Bà P đồng ý sang nhượng lại diện tích đất trên với giá 1.470.000.000 (một tỷ bốn trăm bảy mươi triệu) đồng theo giấy biên nhận tiền đặt cọc ngày 22/4/2021 (giấy tay). Bà P có đưa tiền cọc cho bà 02 lần, tổng cộng 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng; số tiền còn lại 970.000.000 (chín trăm bảy mươi triệu) đồng, hai bên thỏa thuận khi ông L ra ký hợp đồng công chứng cho bà P thì bà P sẽ giao đủ tiền cho bà.

Đến ngày 27/5/2021 thì các bên hẹn ra công chứng tại UBND phường A. Tuy nhiên, khi trả số tiền chuyển nhượng còn lại thì bà P không đủ tiền giao trả cho bà. Vì sợ mất tiền cọc với ông L nên bà phải tự trả tiền cho ông L để ông L ký hợp đồng công chứng với bà P.

Sau đó, do bà P không thể có đủ tiền giao cho bà số tiền 970.000.000 (chín trăm bảy mươi triệu) đồng, nên bà P có đề nghị với bà H cùng hùn tiền mua diện tích đất trên với bà P (vì bà P còn thiếu 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng). Vì là chỗ bạn bè thân quen với bà P và bà cũng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do ông L ký chuyển nhượng đất cho bà H), nên bà đồng ý hùn mua đất với bà P số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng. Do bà đã viết giấy đứng tên giùm cho bà P nên bà P phải viết giấy nhận của bà số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng với mục đích thừa nhận bà có hùn số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng trên với bà P để mua diện tích đất nêu trên.

Nay bà đồng ý sang tên quyền sử dụng đất diện tích 345,2m² thuộc thửa đất số 853, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho bà Huỳnh Thị Kim P (do bà đứng tên). Ngoài ra, bà yêu cầu bà P phải trả lại cho bà số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng mà bà P đã viết giấy nhận tiền của bà. Bà không yêu cầu tính lãi suất.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - ông Võ Văn L trình bày:

Ông L có sang nhượng đất cho bà H, đã nhận đủ tiền của bà H. Ông L không có nhận tiền của bà P. Ông L không liên quan nên không có ý kiến. Thời điểm hai bên hòa giải tại quán cafe gần thớt thịt bò của ông L (kênh B) không có ai đe dọa hoặc cưỡng ép các bên ký thỏa thuận. Cuộc thỏa thuận đó các bên viết hết 1 trang giấy tập (không viết vài dòng). Ông L nghe hai bên thỏa thuận rằng bà P trả tiền cho bà H 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng và trả lãi thêm 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, tổng bà P trả cho bà H là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, và bà H phải sang tên đất trả cho bà P. Khi viết xong thì bà P nghe điện thoại, sau đó không chịu thỏa thuận, còn ai viết giấy ông L không biết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 143/2023/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ Điều 71, 102, 157, 166, 200, 228, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim P về “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị Thúy H.

Buộc bà Nguyễn Thị Thúy H trả lại cho bà Huỳnh Thị Kim P quyền sử dụng đất có diện tích 345,2 m² thuộc thửa 853, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp đất thửa 623 dài 17m;
  • - Hướng Tây giáp đường nhựa dài 17m;
  • - Hướng Nam giáp thửa 854 dài 18,36m;
  • - Hướng Bắc giáp thửa 436 dài 22,78m.
  1. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY572661 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS26099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/12/2020 cho ông Võ Văn L và cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thúy H ngày 18/6/2021 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Kim P theo quyết định của bản án này.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy H về yêu cầu bà Huỳnh Thị Kim P trả số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.

Buộc bà Huỳnh Thị Kim P phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.

Ghi nhận chị H không yêu cầu bà P trả lãi suất.

Ngoài ra Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

-Ngày 27/10/2023 bà Huỳnh Thị Kim P là nguyên đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã buộc bà phải trả cho bà Hằng số tiền 450.000.000 đồng vì từ trước đến nay bà không có vay mượn, cũng không nhận được số tiền 450.000.000 đồng nào của bà H. Kèm theo đơn kháng cáo là đơn đề nghị trưng cầu giám định chữ viết và chữ ký của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn bà P trình bày: Giữ nguyên kháng cáo, vì không có nhận tiền nên không đồng ý trả. Phía bị đơn không đồng ý kháng cáo của nguyên đơn.

Trong phần tranh luận, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bà P không đồng ý trả số tiền 450.000.000 đồng cho bà H, trên cơ sở sau:

- Bà H không chứng minh được việc đưa cho bà P số tiền 450.000.000 đồng, không chứng minh được đưa tiền tại đâu? có ai làm chứng? không có mục đích nhận tiền liên quan đến đất. Trong khi ông L (người sang nhượng đất) xác nhận đã nhận đủ 1.470.000.000 đồng. Cùng ngày ký hợp đồng chuyển nhượng 27/5/2021 bà P đã rút tiền tại ngân hàng có sao kê, thể hiện bà P không có thiếu tiền. Không đồng ý Kết luận giám định chữ viết, chữ ký của bà P đề nghị giám định lại.

- Quá trình giải quyết vụ án bà H trình bày giấy nhận tiền 450.000.000 đồng viết tại quán cà phê gần thớt thịt bò của ông L; tại BL 164 bản tự khai bà H ghi: “ Trước đây khoảng 01 năm bà P đồng ý trả cho tôi 500 triệu, sau đó bỏ đi, không biết tôi còn giữ tờ giấy đó không”, tại biên bản làm việc ngày 14-9-2023 thì bà H trình bày chữ viết là của chị P viết tại nhà bà H. Do đó, bà H trình bày không thống nhất. Không có cơ sở xác định bà H đưa cho bà P số tiền 450.000.000 đồng. không có căn cứ hùn vốn mua đất giữa các bên. Đề nghị, chấp nhận kháng cáo của bà P, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H.

Bà P thống nhất ý kiến của luật sư đã trình bày.

Phía bà H tham gia tranh luận như sau: Bà P thừa nhận thiếu bà số tiền 450.000.000 đồng có mặt ông L (người sang nhượng đất) và một số người nữa chứng kiến. Kết luận giám định là chữ viết và chữ ký của bà P. Đối với tờ giấy viết gần thớt thịt bò của ông L không phải tờ giấy yêu cầu giám định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi xét xử vụ án.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được hỏi tại phiên toà và căn cứ ý kiến của các bên đương sự, của Luật sư, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/10/2023 nguyên đơn bà P có đơn kháng cáo, qua xem xét về trình tự, thủ tục kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 271; Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.1] Trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2022 bà P yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất đối với bà Nguyễn Thị Thúy H. Tiến hành đóng tạm ứng án phí theo Thông báo số 569 ngày 28/11/2022 của Tòa án thị xã T, theo biên lai thu ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Thủ tục khởi kiện phù hợp Điều 146 và 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Tại bản tự khai (BL79) ngày 22/5/2023 bà P xác định có 2 yêu cầu: Buộc bà H trả lại Quyền sử dụng đất và buộc bà H trả số tiền 450.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua đất vào ngày 22/4/2021, lý do hợp đồng đặt cọc vô hiệu vì tại thời điểm đặt cọc bà H không có quyền sử dụng đất đối với thửa đất 853 nên việc giao kết vi phạm điều cấm và cùng ngày bà P có đơn khởi kiện bổ sung (BL 80), tại Thông báo số 442 ngày 31/7/2023 của Tòa cấp sơ thẩm tiến hành cho bà P đóng tiền tạm ứng án phí đối với khởi kiện bổ sung, đến ngày 14/9/2023 bà P có đơn không yêu cầu bà H trả lại số tiền 450.000.000 đồng. Việc bà P khởi kiện, khởi kiện bổ sung và rút khởi kiện bổ sung được thực hiện phù hợp quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Đối với bà H: vào ngày 10/4/2023 bà H có đơn phản tố (BL 49) yêu cầu bà P trả lại số tiền 450.000.000 đồng bà P đã nhận của bà H để hùn tiền mua đất và yêu cầu tính lãi suất. Đã đóng tạm ứng án phí số tiền 11.000.000 đồng vào ngày 18/8/2023 theo Thông báo số 480 ngày 24/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật giải quyết: Bà P khởi kiện yêu cầu bà H trả lại Quyền sử dụng đất, phía bà H phản tố yêu cầu bà P trả lại số tiền 450.000.000 đồng hùn mua đất. Các bên đương sự có tranh chấp, Tòa cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là tranh chấp “Quyền sử dụng đất” và “Đòi lại tài sản” theo Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ. Đối với tranh chấp Quyền sử dụng đất không có kháng cáo, kháng nghị, nên cấp phúc thẩm không xem xét.

[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Bà P xác định kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, cho rằng: Không có nhận tiền của bà H nên không đồng ý trả, và quá trình khởi kiện tại Tòa án, có cung cấp tài liệu là hợp đồng đặt cọc ngày 22/4/2021 về việc chuyển nhượng thửa đất 853 diện tích 345,2 m² tọa lạc tại khu phố A, phường A,thị xã T, tỉnh Tây Ninh, nội dung thể hiện: Bà H có sang nhượng cho bà P diện tích đất trên với giá là 1.470.000.000 đồng. Đặt cọc 2 lần tổng cộng là 500.000.000 đồng. Chủ đất là ông Võ Văn L cũng thừa nhận là có nhu cầu sang nhượng và đã sang nhượng xong diện tích đất trên. Đây là chứng cứ khách quan, có thật, các bên đương sự đều thừa nhận. Có cơ sở xác định bà P có nhu cầu mua diện tích đất trên với giá 1.470.000.000 đồng đã giao số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng, người nhận tiền là bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy H.

[3.2] Xét số tiền sang nhượng còn lại và số tiền đã nhận. Hội đồng xét xử thấy rằng;

Nguyên đơn là bà P cho rằng, đã giao số tiền còn lại 970.000.000 đồng cho chủ đất là ông Võ Văn L tại Ủy ban xã vào ngày 27/5/2021, không có giấy tờ giao nhận tiền và tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng, nhưng cung cấp được chứng cứ chứng minh là “Giấy bán nhà đất (bản chính) có nội dung: “ Tôi tên: Võ Văn L... có bán cho chị Huỳnh Thị Kim P.... diện tích căn nhà 345,2 m² thửa 853 tờ bản đồ số 17 ngày 11-6-2021 chị P đã trả đủ số tiền 1.470.000.000 đồng. Tôi xác nhận ...” Với chứng cứ này, Tòa cấp sơ thẩm đã tiến hành đối chất ngày 20/9/2023 và tiến hành lấy lời khai ông L tại BL 62, 63, 104, 105; Lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn T2 (BL119)... ông L xác định tờ giấy trên do bà P khóc và năn nỉ ông viết để xác nhận cho bà, nhưng thực tế ông hoàn toàn không có nhận tiền sang nhượng đất của bà P, mà ông trực tiếp sang nhượng đất với bà H2 và bà H, giá sang nhượng là 1.360.000.000 đồng, bà H2 đã tiến hành đặt cọc cho vợ ông 2 lần số tiền 400.000.000 đồng và bà H trực tiếp trả số tiền còn lại cho vợ chồng ông xong, nên ông đã tiến hành làm thủ tục sang tên cho bà H xong. Do đó, có căn cứ xác định tờ giấy bán nhà đất bản chính do bà P cung cấp cho Tòa án là không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, bà P không có cung cấp được chứng, tài liệu nào thể hiện đã giao số tiền 970.000.000 đồng còn lại cho bà H.

[3.3] Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vợ chồng ông Võ Văn L, bà Nguyễn Thị L2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên vào ngày 07/12/2020, sau đó, ông bà có sang nhượng cho bà Nguyễn Thị Thanh H2Nguyễn Thị Thúy H diện tích đất trên với giá 1.360.000.000 đồng; bà H và bà P giao dịch diện tích đất trên giá 1.470.000.000 đồng, bà P đã giao 500.000.000 đồng, số tiền còn lại bà P không chứng minh được đã giao cho bà H.

[4] Phía bà H, cung cấp tờ giấy bản chính không có ngày tháng năm,có nội dung: “Chị Huỳnh Thị Kim P có nhận của chị Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền là 450.000.000 đồng”. Quá trình thu thập chứng cứ bà P thừa nhận chữ viết là của bà, tuy nhiên chữ ký và viết họ tên của bà dưới chữ ký là không phải do bà ký và viết, yêu cầu được giám định chữ ký và chữ viết. Cấp phúc thẩm đã tiến hành thu thập tài liệu và ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2024/QĐ-TCGĐ ngày 13/5/2024, tại Kết luận giám định số: 3012/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phân viện Khoa học hình sự của Bộ C, kết luận: “Chữ ký đứng tên Huỳnh Thị Kim P, chữ viết họ tên dưới chữ ký và chữ viết “tôi” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Huỳnh Thị Kim P trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M5 là do cùng một người ký, viết ra”. Tại phiên tòa, phía nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền và lơi ích hợp pháp, đề nghị tiến hành giám định lại nhưng không trình bày được lý do chính đáng để yêu cầu giám định lại. Do đó, không có căn tiến hành giám định lại theo yêu cầu của phía nguyên đơn.

[5] Mặt khác, giao dịch sang nhượng đối với diện tích 345,2 m² thưa 853, tờ bản đồ số 17 thực tế giữa bà P và bà H có mâu thuẩn về tiền bạc và có việc giải quyết với nhau tại quán cà phê gần thớt bán thịt bò của ông L có nhiều người biết sự việc trên như: ông Nguyễn Văn T2, ông Nguyễn Văn G, ông Võ Văn L bà P trình bày, khi viết tờ giấy nhận tiền 450.000.000 đồng của bà H là bà P bị ép buộc nhưng không cung cấp được chứng cứ thể hiện việc bị ép buộc. Do đó, bà phải có trách nhiệm về nội dung tờ giấy đã viết đã được tiến hành giám định theo yêu cầu của bà.

[6] Xét thấy, có chứng cứ thể hiện bà P giao dịch sang nhượng đất với bà H; bà H đã nhận 500.000.000 đồng tiền đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc ngày 22/4/2021 và 520.000.000 đồng tiền mặt vào ngày 27/5/2021 ngày ký hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L với bà P, tổng cộng 1.020.000.000 đồng. Còn lại 450.000.000 đồng, không có chứng cứ thể hiện bà P đã trả. Theo bà H trình bày, do bà P chưa có tiền trả vì sợ phải chịu tiền phạt cọc với ông L nên bà H đã trả số tiền trên và bà P đã viết giấy nhận tiền của bà Hằng số tiền 450.000.000 đồng. Lời trình bày của bà H phù hợp với giấy nhận tiền, phù hợp với việc bà P đã tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng với ông L, phù hợp với bản cam kết bà H đứng tên dùm cho bà P để bà P hoàn thành đầy đủ thủ tục giấy tờ. Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận phản tố của bà H là có căn cứ. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà P.

[7] Về án phí sơ thẩm:

Huỳnh Thị Kim P phải chịu 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị Kim P đã nộp là 11.000.000 (mười một triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027437, ngày 03 tháng 8 năm 2023 và 10.000.000 (mười triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026951, ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Bà Huỳnh Thị Kim P phải nộp thêm 1.000.000 (một triệu) đồng.

Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khầu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.000.000 (mười một triệu) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002746 ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền tạm ứng án phí 10.700.000 (mười triệu bảy trăm nghìn) đồng.

[8] Án phí phúc thẩm:

Bà P không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng)

[9] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157; Điều 158; Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà P yêu cầu trả lại Quyền sử dụng đất được chấp nhận nên không phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chổ, bà đã tạm ứng số là 5.300.000 đồng. Ghi nhận đã nộp xong. Cần buộc bà H có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền 5.300.000 đồng cho bà P.

Buộc bà P phải chịu chi phí giám định là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ghi nhận đã nộp xong.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim P

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

  1. Căn cứ Điều 71; Điều 102; Điều 157;Điều 166; Điều 200; Điều 228; Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 203 Luật đất đai;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim P về “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Nguyễn Thị Thúy H.

Huỳnh Thị Kim P được quyền sử dụng đất có diện tích 345,2 m² thuộc thửa 853, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận như sau:

  • - Hướng Đông giáp đất thửa 623 dài 17m;
  • - Hướng Tây giáp đường nhựa dài 17m;
  • - Hướng Nam giáp thửa 854 dài 18,36m;
  • - Hướng Bắc giáp thửa 436 dài 22,78m.
  1. Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY572661 vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS26099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 07/12/2020 cho ông Võ Văn L và cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thúy H ngày 18/6/2021.

Huỳnh Thị Kim P được kê khai đăng quyền sử dụng đất trên khi có đủ điều kiện về thủ tục hành chính theo quy định.

  1. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy H đòi tài sản đối với bà Huỳnh Thị Kim P.

Buộc bà Huỳnh Thị Kim P phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng. Ghi nhận bà H không yêu cầu bà P trả lãi suất.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Nguyễn Thị Thúy H phải chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng số tiền 5.300.000 (năm triệu ba trăm nghìn) đồng; ghi nhận bà Huỳnh Thị Kim P đã nộp và thanh toán xong. Bà H có nghĩa vụ trả số tiền 5.300.000 (năm triệu ba trăm nghìn) đồng cho bà P.

Buộc bà P phải chịu chi phí giám định là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Ghi nhận đã nộp xong.

  1. Về án phí sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Kim P phải chịu 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị Kim P đã nộp là 11.000.000 (mười một triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027437, ngày 03 tháng 8 năm 2023 và 10.000.000 (mười triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026951, ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khấu trừ 2 khoản tiền trên, bà Huỳnh Thị Kim P còn phải nộp 1.000.000 (một triệu) đồng.

Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 11.000.000 (mười một triệu) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002746 ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thúy Hằng s tiền tạm ứng án phí 10.700.000 (mười triệu bảy trăm nghìn) đồng.

  1. Án phí phúc thẩm:

Huỳnh Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Ghi nhận bà P đã nộp xong theo Biên lai thu số: 0027719 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao Hà Nội (Vụ 2);
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND TX Trảng Bàng;
  • - VKSND TX Trảng Bàng;
  • - CCTHADS TX Trảng Bàng;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2024/DS-PT ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp “ quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”

  • Số bản án: 355/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp “ quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger