|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số:355/2024/HS-ST Ngày 15-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Năm;
- Ông Trần Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 323/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 314/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 622/2024/QĐST-HS ngày 05/7/2024 đối với:
- Bị cáo: Lê Quang Tuấn A (tên gọi khác: không), sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Phước; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ; Nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang C và bà Nguyễn Thị Ngọc Á; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 587 ngày 26/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1991
Địa chỉ cư trú: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chị Y vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Ánh L, sinh năm 1993; Địa chỉ cư trú: Khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Chị L vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Lê Quang Tuấn A là bảo vệ tại bãi gửi xe của Siêu thị L1 thuộc khu phố C, phường L, thành phố B. Vào khoảng 12 giờ 25 phút, ngày 16/3/2024, trong quá trình làm việc, Tuấn A phát hiện cốp xe môtô biển số 60B9-806.76 của chị Nguyễn Thị Hải Y (sinh năm 1991, ngụ khu phố A, phường T, thành phố B) không khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, Tuấn A lén lút mở cốp xe của Y, lục tìm lấy 01 chiếc thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Hải Y (được để trong một chiếc túi màu nâu) cất giấu vào túi quần rồi tiếp tục làm việc. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Tuấn A đi đến điểm rút tiền tự động (trụ ATM) của Ngân hàng V trong Khu công nghiệp A thuộc phường L, thành phố B đưa chiếc thẻ trộm cắp được vào máy rồi nhập mật khẩu “060991" (là ngày tháng năm sinh của chị Y, do Tuấn A đọc được trên Căn cước công dân của chị Y khi lấy thẻ trước đó) và rút lấy toàn bộ số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) có trong tài khoản của chị Y. Sau đó, Tuấn A đưa số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) cho ông Trần Minh P (sinh năm 1963, ngụ tại địa chỉ số G, tổ E, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) nhờ ông P chuyển số tiền trên vào tài khoản của Tuấn A số [...] tại Ngân hàng Q (V1), trả phí chuyển tiền cho ông P 10.000đồng (Mười nghìn đồng và mua nước uống và thuốc lá hết số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), còn lại số tiền 890.000 đồng (Tám trăm chín mươi nghìn đồng) Tuấn A cất giữa trên người và quay lại bãi xe của Siêu thị để làm việc.
Sau khi phát hiện bị trừ tiền trong tài khoản, cùng ngày chị Y đã đến trình báo Công an phường L đến Siêu thị để trích xuất camera. Biết được hành vi trộm cắp đã bị phát hiện, Tuấn A đã đến Công an phường L đầu thú, giao nộp lại thẻ ATM và số tiền 890.000đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng) của chị Y. Sau đó, Công an phường L đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.
(Lời khai của bị can tại các bút lục số: 27-41); (Lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại các bút lục số: 42-49, 50-57);
* Vật chứng vụ án gồm:
- 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Nguyễn Hải Y và số tiền 890.000 đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng), là tài sản của chị Y bị trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Y; (Bút lục số: 97-98, 124)
- 01 thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên Lê Quang Tuấn A; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y93 bên trong lắp sim số điện thoại 0922.039.xxx (số I 869633045529938) là tài sản của Lê Quang Tuấn A, không sử dụng thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị can A. (Bút lục số: 97-98, 125)
- 02 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của bị can Tuấn A. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án; (Bút lục số: 75-76);
2. Về trách nhiệm dân sự:
Chị Phạm Thị Ánh L (sinh năm 1993, ngụ tại khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bình Phước, là chị ruột của bị cáo Tuấn A) đã bồi thường số tiền 8.110.000đồng (tám triệu, một trăm mười nghìn đồng) cho bị hại là chị Nguyễn Thị Hải Y. Hiện chị Y không có yêu cầu khác. (Bút lục: 78-79).
3. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 336/CT-VKSBH ngày 04/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Lê Quang Tuấn A về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
+ Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Quang Tuấn A từ: 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.
+ Đề nghị không xem xét về trách nhiệm dân sự do bị hại không yêu cầu.
- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Người bị hại chị Nguyễn Thị Hải Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Ánh L đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y, chị L theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 12 giờ 25 phút, ngày 16 tháng 3 năm 2024, tại bãi gửi xe của siêu thị L1 và trụ ATM thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Quang Tuấn A đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc thẻ ATM Ngân hàng V2 và số tiền 9.000.000đồng (chín triệu đồng) của chị Nguyễn Thị Hải Y thì bị bắt giữ khởi tố, điều tra xử lý.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Quang Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 336/CT-VKSBH ngày 04/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Quang Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo đầu thú; thuộc trường hợp được quy định tại điểm b,i,s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Quang Tuấn A để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Người bị hại chị Nguyễn Thị Hải Y đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Ánh L không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường cho chị Y. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng và các vấn đề khác có liên quan vụ án:
- Đối với 01 thẻ ATM Ngân hàng V mang tên Nguyễn Hải Y và số tiền 890.000đồng (tám trăm chín mươi nghìn đồng), là tài sản của chị Y bị trộm cắp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị Y là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với 01 thẻ ATM Ngân hàng V1 mang tên Lê Quang Tuấn A; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y93 bên trong lắp sim số điện thoại 0922.039.xxx (số I 869633045529938) là tài sản của Lê Quang Tuấn A, không sử dụng thực hiện tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với 02 USB chứa đoạn video ghi lại hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Tuấn A nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
[5] Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do bị xác định là có tội nên cần buộc bị cáo Lê Quang Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
- Đối với phần trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Về tội danh: xác định bị cáo Lê Quang Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Quang Tuấn A 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024.
2. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Quang Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huệ |
Bản án số 355/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 355/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Tuấn A phạm tội trộm cắp tài sản
