Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 355/2024/DS-PT

Ngày: 29/5/2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng

Các Thẩm phán:

1. Ông Đỗ Minh Hoàng

2. Ông Vũ Toàn Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 22, 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 589/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 683/2023/QĐ-PT ngày 29/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QĐHPT-PT ngày 25 tháng 01 năm 2024; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 143/2024/TB-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2024/QĐHPT-PT ngày 23 tháng 04 năm 2024, của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt S1); Trụ sở: Số B - B N, phường H, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh H - Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S.

Bị đơn: Bà Vũ Phương A, sinh năm 1985; đăng ký HKTT: Số A, xóm T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:

Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/11/2019, bà Vũ Phương A có ký với S1 hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S1 (sau đây gọi tắt là Bản điều khoản), các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Phương A, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 436438-8697 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Phương A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 292.992.998 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Phương A đã thanh toán cho S1 số tiền 247.339.581 đồng (thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 21 của Bản điều khoản, kể từ ngày chuyển nợ qua hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Phương A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Phương A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản). Ngày 26/02/2021, S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản điều khoản). Dư nợ chuyển quá hạn 58.315.271 đồng (trong đó: giao dịch 49.946.269đ, phí vượt trễ hạn 1.407.045đ, lãi trong hạn 5.606.067đ, phí vượt hạn mức 356.8904₫, phí thường niên 999,000đ). Lãi suất quá hạn: 3.6%/tháng = 2.4% x 150%. Tính đến ngày 08/08/2023, bà Phương A còn nợ các khoản sau: Dư nợ chuyển quá hạn tạm gọi là gốc: 58.315.271 đồng (trong đó: giao dịch 49.946.269đ, phí vượt trễ hạn 1.407.045đ, lãi trong hạn 5.606.067đ, phí vượt hạn mức 356.890đ, phí thường niên 999,000đ). Lãi quá hạn : 62.560.332 đồng (trong đó: giao dịch 53.582.7844đ, phí vượt trễ hạn 1.509.072đ, lãi trong hạn 6.013.938đ, phí vượt hạn mức 382.6323đ, phí thường niên 1.071.906đ). Tổng cộng: 120.875.603 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm linh ba đồng). Mặc dù S1 đã yêu cầu bà Phương A có trách nhiệm thanh toán nhưng bà Phương A vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho S1, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay Ngân hàng có các yêu cầu khởi kiện sau:

  1. Buộc bà Vũ Phương A phải trả ngay cho S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/08/2023 là 120.875.603 đồng (Bằng chữ: Một trăm hai mươi triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, sáu trăm linh ba đồng).
  2. Bà Vũ Phương A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 08/08/2023 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Ngoài ra, S1 không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Phương A nhưng bà Phương A không đến Tòa án làm việc và không gửi bất kỳ văn bản nào cho Tòa án nên Tòa án không có bản tự khai của bà.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Phương A. Buộc bà Vũ Phương A phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 4791392550568311, Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tạm tính đến ngày xét xử bao gồm: Nợ gốc: 50.945.269 đồng; Nợ lãi trong hạn: 5.606.067 đồng; Phí trễ hạn và phí vượt hạn mức: 1.763.935 đồng; Lãi quá hạn: 53.965.695 đồng. Tổng cộng: 112.280.966 đồng (một trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi ngàn chín trăm sáu mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án là bà Vũ Phương A tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý tiền tạm ứng án phí, tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau phiên toà sơ thẩm:

Ngày 21/8/2023, S1 kháng cáo toàn bộ Quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; thỏa thuận giữa khách hàng và S1 về nội dung S1 được tính lãi trên tất cả các khoản nợ thể hiện trong Thông báo giao dịch là phù hợp với quy định tại khoản 4 mục I Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Điều 13, 15 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của S1. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội và chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn đã được Tòa án tiến hành tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt

không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình diễn biến tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của S1, áp dụng khoản khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của S1; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 10/8/2023, đại diện S1 có mặt; ngày 21/8/2023, S1 Tín có đơn kháng cáo và nộp cho Toà án cấp sơ thẩm; người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phạm vi kháng cáo của S1 kháng cáo Toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2]. Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên toà lần thứ ba. Tại phiên toà, có mặt đại diện theo ủy quyền của S1, bà Vũ Phương A vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà Vũ Phương A theo khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP S:

[2.1]. Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 15/11/2019:

Hội đồng xét xử nhận thấy,

Ngày 15/11/2019, bà Vũ Phương A lập Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng đăng ký với S1) cấp thẻ tín dụng quốc tế thẻ Visa Platinum Cashback với hạn mức tín dụng mong muốn 100.000.000 đồng.

Ngày 22/11/2019, S1 đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Classic 436438-8697 hạn mức 50.000.000 đồng cho bà Vũ Phương A, mục đích vay tiêu dùng cá nhân.

Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 15/11/2019 được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận, bên cấp thẻ tín dụng có đầy đủ tư cách pháp nhân, cá nhân tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, hình thức và nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực pháp luật. Kèm theo Giấy đề nghị cấp thẻ là Bản điều khoản có hiệu lực kể từ ngày 29/11/2019 đã được thông báo trực tiếp cho khách hàng và đăng tải trên website của S1.

[2.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Phương A phải trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán; nợ lãi trong hạn; nợ lãi quá hạn; các loại phí theo Hợp đồng tín dụng thẻ ngày 15/11/2019:

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Vũ Phương A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 292.992.998 đồng và đã thanh toán cho S1 số tiền 247.339.581 đồng. Sau ngày 25/10/2020 cho đến nay, bà Vũ Phương A không thanh toán bất kỳ khoản nào. Do đã quá thời hạn thanh toán của chủ thẻ quy định tại Bản điều khoản của S1 nên S1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn được quy định tại Điều 24 của Bản điều khoản của S1 kể từ ngày 26/2/2021. Do đó theo hợp đồng tín dụng thẻ được ký kết giữa S1 với bà Vũ Phương A và Thông tư số 19 ngày 30/6/2019 của Ngân hàng N quy định hoạt động thẻ Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền khởi kiện đối bà Vũ Phương A phải trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, các loại phí theo Hợp đồng tín dụng thẻ nêu trên là có căn cứ.

[2.3]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Phương A phải trả số tiền nợ gốc chưa thanh toán:

Xét thấy, theo hạn mức thẻ tín dụng S1 cấp thẻ tín dụng S1 Classic 436438-8697 hạn mức: 50.000.000 đồng cho bà Vũ Phương A. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Vũ Phương A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 292.992.998 đồng. Bà Vũ Phương A đã thanh toán cho S1 số tiền 247.339.581 đồng. Sau ngày 25/10/2020 cho đến nay bà Vũ Phương A không thanh toán bất kỳ khoản nào cho S1.

S1 căn cứ khoản 24.4 Điều 24 trong Bản điều khoản của S1 kể từ ngày 26/2/2021 để xác định khoản nợ gốc ngoài khoản giao dịch và các loại phí còn có khoản lãi trong hạn. Theo quy định nêu trên thì S1 đã xác định lãi suất quá hạn đối với toàn bộ khoản dư nợ theo quy định của S1. Việc S1 xác định khoản nợ gốc gồm khoản giao dịch khách hàng chưa thanh toán, phí vượt hạn mức, phí trẻ hạn, lãi trong hạn là không phù hợp với quy định của pháp luật dẫn đến việc xác định

sai khoản nợ gốc khách hàng phải thanh toán, ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định phí thường niên là phí phát hành thẻ, phí duy trì hoạt động thẻ, được thu hàng năm và cần thiết liên quan đến việc phát hành, duy trì hệ thống kích hoạt thẻ của S1 và do kể từ ngày 26/2/2021 bà Vũ Phương A chấm dứt quyền sử dụng thẻ nên chấp nhận phí thường niên 999.000 đồng được tính vào khoản nợ gốc là có căn cứ.

Như vậy, tiền nợ gốc bà Vũ Phương A chưa thanh toán cho S1 theo sao kê là: 49.946.269 đồng + 999.000 đồng = 50.945.269 đồng.

[2.4]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối bà Vũ Phương A phải trả phí vượt hạn mức; phí trễ hạn (chậm thanh toán); tiền lãi:

[2.4.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối bà Vũ Phương A phải trả phí vượt hạn mức:

S1 căn cứ điểm 1 Điều 25 của Bản điều khoản sử dụng thẻ để xác định số tiền dư nợ thẻ (gồm cả gốc, lãi, phí) của bà Phương A là: 58.315.271 đồng, vượt hạn mức số tiền 50.000.000 đồng được phê duyệt. Tuy nhiên, do S1 đã xác định dư nợ gốc của khách hàng không đúng nên việc áp dụng mức phí vượt hạn mức do dư nợ gốc vượt quá hạn mức được cấp phép là có cơ sở để Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nhưng không được tính vào khoản dư nợ gốc là có căn cứ.

[2.4.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của S1 đối bà Vũ Phương A phải trả phí trễ hạn (chậm thanh toán):

Theo quy định tại điểm g Điều 25 của Bản Điều khoản sử dụng thẻ quy định Phí chậm thanh toán được thu “nếu Chủ thẻ không thanh toán số tiền tối thiểu vào hoặc trước ngày đến hạn" phần phí trễ hạn này ngân hàng xác định là 1.407.045 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nhưng không được tính vào khoản dư nợ gốc là có căn cứ.

[2.4.3]. Xét yêu cầu khởi kiện của S1 đối bà Vũ Phương A phải trả tiền lãi:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng quốc tế loại visa vàng được duyệt trên hệ thống áp dụng đối với hợp đồng tín dụng thẻ của khách hàng Vũ Phương A, lãi suất là: 28.8%/năm. Tại thời điểm này, Ngân hàng N không quy định lãi suất cho vay tối đa, do đó việc S1 và bà Vũ Phương A thoả thuận lãi suất cho vay như trên không trái quy định của pháp luật.

Kể từ ngày 26/10/2020, bà Vũ Phương A không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho S1. S1 đã chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ ngày 26/2/2021 là phù hợp với Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S1 và phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao thì khoản tiền lãi trong hạn là lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả.

Theo quy định tại điểm 23.1 Điều 23 Điều khoản sử dụng thẻ thì Lãi suất được tính từ ngày khách hàng thực hiện giao dịch. Theo Bảng sao kê do S1 cung cấp thể hiện ngày khách hàng giao dịch số tiền nợ gốc là: 25/10/2020, lãi trong hạn được tính trên nợ gốc tính đến ngày 25/2/2021 (trước ngày khoản nợ bị chuyển sang quá hạn 26/2/2021). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận lãi suất trong hạn là: 5.606.067 đồng là có căn cứ.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Thông tư số 19 ngày 30/6/2019 của Ngân hàng N quy định hoạt động thẻ Ngân hàng; điểm c khoản 4 Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng để xác định khoản nợ lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc được tính kể từ ngày S1 chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn là ngày 26/2/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 50.945.269 đồng x 28.8%/365 x 895 x 150% = 53.965.695 đồng là có căn cứ.

Theo quy định tại Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 thì bà Vũ Phương A và S1 ký giấy đề nghị cấp thẻ ngày 15/11/2019 nên bà Phương A còn phải chịu tiền phạt chậm trả lãi được xác định theo mức lãi suất không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định (10%) tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn (từ 26/2/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm). Tuy nhiên, S1 không yêu cầu bả Phương A phải thanh toán khoản tiền này nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của S1 là có căn cứ.

Theo nhận định tại mục [3.4.1], [3.4.2], [3.4.3] thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định số tiền bà Vũ Phương A còn phải thanh toán cho S1 là có căn cứ, cụ thể: Nợ gốc: 50.945.269 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.606.067 đồng; phí vượt trễ hạn: 1.407.045 đồng; phí vượt hạn mức: 356.890 đồng; lãi quá hạn: 53.965.695 đồng.

Từ những phân tích tại mục [2], Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của S1; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Về án phí:

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Vũ Phương A phải chịu 5.614.000 đồng án phí dân sự sự thẩm. S1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[3.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do không chấp nhận kháng cáo, nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTM ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP S, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Vũ Phương A. Buộc bà Vũ Phương A phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tính theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 4791392550568311, Bản điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tạm tính đến xét xử sơ thẩm bao gồm: Nợ gốc: 50.945.269 đồng; nợ lãi trong hạn: 5.606.067 đồng; phí trễ hạn và phí vượt hạn mức: 1.763.935 đồng; lãi quá hạn: 53.965.695 đồng. Tổng cộng: 112.280.966 (một trăm mười hai triệu hai trăm tám mươi ngản chín trăm sáu mươi sáu) đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án là bà Vũ Phương A tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Về án phí:

    Bà Vũ Phương A phải chịu 5.614.000 (năm triệu, sáu trăm mười bốn nghìn) đồng án phí dân sự sự thẩm.

    Ngân hàng TMCP S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.924.141 (một triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, một trăm bốn mươi mốt) đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 13193 ngày 07/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội; phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2020/0013848 ngày 07/09/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

- VKS NDTP Hà Nội;

- TAND quận Hai Bà Trưng;

- Chi cục THA DS quận Hai Bà Trung;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2024/DS-PT ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 355/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger