Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 355/2023/HNGĐ-ST

Ngày 22-11-2023

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

chung khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và Bà Ngô Thị Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:

Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 400/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 394/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 284/2023/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Chị Nguyễn Thùy Tr, sinh năm 2002.

    Địa chỉ: Số 3/94 Th, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Anh Phạm An T, sinh năm 1999.

    Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số 3/94 Th, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện đang cư trú tại N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thùy Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm An T được tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/02/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp khiến anh chị thường xuyên xảy ra cãi nhau. Sau khi anh T đi lao động tại N vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm An T theo quy định.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Phạm An Gia H, sinh ngày 20/8/2023, hiện đang ở cùng với chị. Do hiện nay anh T đang lao động tại nước ngoài, con chung còn nhỏ nên khi ly hôn chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của bà Đoàn Thị L (mẹ đẻ của anh Phạm An T) thể hiện: Anh T hiện đang sinh sống tại N, địa chỉ cụ thể thì bà không biết, nhưng anh T thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T biết. Vợ chồng chị Tr, anh T xảy ra mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm và không có sự tin tưởng nhau. Bản thân bà đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị Tr có đơn đề nghị ly hôn, bà đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, bà đã thông báo cho anh T biết. Anh T không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với qua điện thoại và xác định vợ chồng mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nên anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh T nhất trí giao con chung cho chị Tr tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Chị Nguyễn Thùy Tr và anh Phạm An T kết hôn hợp pháp, thông qua gia đình, địa phương được biết vợ chồng anh chị có mâu thuẫn do không có sự tin tưởng nhau. Nay chị Tr có đơn đề nghị giải quyết ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các đương sự và quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thùy Tr, có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời giữ nguyên các ý kiến đã trình bày. Anh Phạm An T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ, Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thùy Tr ly hôn anh Phạm An T. Về con chung: Giao con chung là Phạm An Gia H, sinh ngày 20/8/2023 cho chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Tr phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm An T có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh ở số nhà 3/94 Th, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện đang sinh sống tại N, không rõ địa chỉ cụ thể. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Tr và gia đình bà L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài. Tòa án cũng đã T hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Mặt khác, gia đình bà L vẫn thường xuyên liên lạc với anh T nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho gia đình để thông báo cho anh T biết việc chị Tr đề nghị giải quyết ly hôn và các thủ tục tố tụng khác. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng và đã thông báo cho anh T biết. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ hai, chị Tr có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2]Về nội dung:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy Tr và anh Phạm An T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 10/02/2023, là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và không có sự tin tưởng nhau. Anh Phạm An T không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh T xác định vợ chồng không thể đoàn tụ nên cũng đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thùy Tr và anh Phạm An T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình, quan điểm của địa phương và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thùy Tr ly hôn anh Phạm An T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thùy Tr và anh Phạm An T có một con chung là Phạm An Gia H, sinh ngày 20/8/2023 hiện đang do chị Tr nuôi dưỡng. Xét về thực tế anh T đang ở nước ngoài không có đủ điều kiện để nuôi con, thông qua gia đình anh T cũng nhất trí để chị Tr tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị Tr có nguyện vọng được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy con chung của chị Tr, anh T còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ hơn. Do vậy, chấp nhận giao cho chị Nguyễn Thùy Tr nuôi dưỡng con chung và chấp nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu anh T có căn cứ cho rằng chị Tr không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì anh có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thùy Tr phải chịu án phí dân sự (về hôn nhân gia đình) sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thùy Tr ly hôn anh Phạm An T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thùy Tr chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm An Gia H, sinh ngày 20/8/2023 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thùy Tr không yêu cầu anh Phạm An T cấp dưỡng cho con.

    Không ai được cản trở anh Phạm An T thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thùy Tr phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về Hôn nhân gia đình) và được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0000496 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm An T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Chị Nguyễn Thùy Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường L, TP. Hải Dương, Hải Dương (để ghi số hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 355/2023/HNGĐ-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 355/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Tr có đơn khởi kiện ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger