Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 354/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 29/8/2024.

Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Kim Lan

2. Ông Kiều Xuân Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 305/2024/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 08 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST– HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lỗ Thị Ngọc L, sinh năm 1998; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Anh Đào Ngọc H, sinh năm 1991; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số C - Trại giam V – Bộ C.

Vắng mặt: chị L, anh H (đều có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2024, những lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, Nguyên đơn là chị Lỗ Thị Ngọc L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lỗ Thị Ngọc L kết hôn với anh Đào Ngọc H trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 27/01/2021. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống hòa thuận được một thời gian cho đến ngày 13/12/2021 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh, chị là do anh H chơi bời, không quan tâm gì đến vợ con, nợ lần. Đến ngày 12/7/2022, anh H bị bắt tạm giam về tội Giết người, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh, chị

cũng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay Chị L khởi kiện xin ly hôn anh H chị xác định tình cảm không còn do vậy chị xin được ly hôn anh H.

Về con chung: Anh, chị có một con chung là: cháu Đào Hà N, sinh ngày 24/7/2021. Hiện nay cháu N đang ở với chị, chị hiện đang bán hàng online với mức thu nhập khoảng 8.000.000 đồng/tháng. Ly hôn, chị L xin được nuôi con chung của anh, chị là cháu N.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về tài sản chung: Chị L xác định anh, chị không có gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo lời khai của Bị đơn là anh Đào Ngọc Hà trình bày: Anh, chị Kết h có đăng ký ngày 27/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống anh, chị sống hòa thuận một thời gian thì anh vi phạm pháp luật và bị Tòa án cấp cao tại Hà Nội xử phạt 8 năm tù. Nay chị L xin ly hôn anh, anh nhất trí ly hôn để chị L ổn định cuộc sống riêng. Anh nhất trí việc Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết vụ án ly hôn của vợ chồng anh và anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, trích xuất anh về để tham gia phiên tòa vì anh phải cải tạo để sớm trở về với xã hội.

Về con chung: Anh, chị có một con chung là: cháu Đào Hà N, sinh ngày 24/7/2021. Ly hôn, chị L xin nuôi con chung là cháu N, anh H nhất trí.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: khi nào chấp hành xong hình phạt tù anh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: anh H xác định anh, chị không có tài sản chung gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Chị L, anh H không có mặt nên không có ý kiến.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lỗ Thị Ngọc L với anh Đào Ngọc H1. Chị Lỗ Thị Ngọc L được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Giao cháu Đào Hà N, sinh ngày 24/7/2021 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét. Anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Đào Ngọc H1 có nơi thường trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Chị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án ly hôn cho chị và anh H1 nhất trí để Tòa án nhân dân huyện Mê Linh giải quyết vụ việc ly hôn ly hôn của vợ chồng anh nên theo quy định của pháp luật yêu cầu giải quyết tranh chấp ly hôn của chị Lỗ Thị Ngọc L với anh Đào Ngọc H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Chị Lỗ Thị Ngọc L có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án xét xử, Anh Đào Ngọc H2 có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ kiện, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị L, anh H2 theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa chị Lỗ Thị Ngọc L và anh Đào Ngọc H2: Anh, chị tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M ngày 27/01/2021 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Qua lời khai của anh, chị và kết quả xác minh thể hiện: Quá trình chung sống anh, chị sinh sống một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, sau đó đến ngày 12/7/2022 thì anh, chị sống ly thân, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó cho đến nay. Chị L xác định không còn tình cảm với nhau nên chị L xin ly hôn, anh H2 nhất trí. Nhận thấy, quá trình chung sống giữa chị L, anh H2 đã có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chính là do không quan tâm đến nhau, sống ly thân nhưng không khắc phục được mâu thuẫn làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh, chị cùng thống nhất ly hôn do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lỗ Thị Ngọc L với anh Đào Ngọc H2 là phù hợp.

[3] Về con chung: Anh, chị có một con chung là: cháu Đào Hà N, sinh ngày 24/7/2021. Ly hôn, chị L, anh H2 cùng thống nhất chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do vậy, khi ly hôn giao chị L trực tiếp nuôi cháu N và không xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L không yêu cầu cho đến khi con chung của anh, chị thành niên hoặc đến khi có quyết định khác của Tòa án. Anh H2 có quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Anh, chị cùng có ý kiến không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, chị Lỗ Thị Ngọc L phải chịu cả.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lỗ Thị Ngọc L xin ly hôn anh Đào Ngọc H2. Chị Lỗ Thị Ngọc L được ly hôn anh Đ.

  3. Về con chung:
  4. Chị Lỗ Thị Ngọc L và anh Đào Ngọc H2 có một con chung là: cháu Đào Hà N, sinh ngày 24/7/2021. Khi ly hôn, giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H2 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác của Tòa án. Anh Đào Ngọc H2 có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  5. Về tài sản chung:
  6. Các đương sự khai không có gì vì vậy Tòa án không xét.

  7. Về án phí ly hôn sơ thẩm:
  8. 300.000 đồng, chị Lỗ Thị Ngọc L phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8854 ngày 01/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai, sơ thẩm chị Lỗ Thị Ngọc L, anh Đào Ngọc H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - THA dân sự huyện Mê Linh;
  • - UBND xã Tiến Thịnh (GCN kết hôn số 8 ngày 27/01/2021);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Trung

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2024/HNGĐ - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 354/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lỗ Thị Ngọc L xin ly hôn anh Đào Ngọc H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger