|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 354/2024/HS-ST Ngày: 29-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Cửu Long
- 2. Ông Trần Đăng Vạn
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hằng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn K – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 343/2024/HS-ST ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Kiều Hoài Bảo Châu; Sinh ngày 09/10/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: Số D Đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Kiều Thanh V, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Hoài Thiên K1, sinh năm 1971; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023. Nguyễn Thị Thu N; sinh ngày 20/8/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Đăng ký Hộ khẩu thường trú: 28 Đường A, khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953; Có chồng đã ly hôn; cón hai con; con lớn sinh năm 2010; con nhỏ sinh năm 2012; gia đình có sáu anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2023.
1
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hà A Vũ
Địa chỉ: 2 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 09/11/2023, Đội Cảnh sát điều tra tôi phạm về Ma túy, phối hợp Công an phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra trên địa bàn khi đến trước nhà số F đường N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện 01 đối tượng nam, điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future màu đen biển số 52S5–0170 có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe để kiểm tra, người thanh niên này khai tên Kiều Hoài Bảo C. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần Jean bên phải phía trước của C có 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, C khai gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy đá C mới mua với giá 500.000 đồng của Nguyễn Thị Thu N tại phòng trọ số A Đường C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh về sử dụng cho bản thân, khi mua ma túy xong C bỏ gói ma túy đá vào túi quần sóc Jean bên phải phía trước của C đang mặc để tìm nơi sử dụng. Khi C đi đến trước nhà số F, đường N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng, đưa C về trụ sở Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Công an, Kiều Hoài Bảo C khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017 đến nay nhưng không thường xuyên. Ma túy để C sử dụng gần đây là do C mua của Nguyễn Thị Thu N tại phòng trọ số A, Đường C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. C khai đã mua ma túy của N được 02 lần. Lần đầu tiên là vào khoảng 14 giờ ngày 06/11/2023, C mua của N 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng về để sử dụng và đã sử dụng hết. Lần thứ hai là khoảng 18 giờ 20 phút ngày 09/11/2023 C mua của N 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, C đưa cho N 300.000 đồng còn thiếu lại N 200.000 đồng. Cả hai lần C mua ma túy của N thì C đều liên hệ với N qua điện thoại rồi đến phòng trọ số A, Đường C, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp N lấy ma túy và trả tiền (Bút lục: 15, 16; 19; 42;103-106)
Từ lời khai của C, khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/11/2023 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an thành phố T phối hợp với Công an phường B kiểm tra hành chính phòng số A, nhà số A Đường C, khu phố A phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra trong phòng số 10 có một người phụ nữ khai tên Nguyễn Thị Thu N. Qua làm việc, N khai nhận có bán ma túy và tự nguyện giao nộp số ma túy còn cất giấu trong phòng trọ của N cho cơ quan Công an gồm: một hộp giấy hình vuông bên ngoài có chữ BOSS bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 túi xách màu xanh bên
2
ngoài có chữ FASHION & BAG bên trong có 01 gói nylon đựng 14 gói nylon chứa tinh thể không màu. N khai nhận toàn bộ gói nylon chứa tinh thể không màu trên là ma túy đá. Sau đó cơ quan công an tiến hành thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa N về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi bán ma túy cho Kiều Hoài Bảo C.
Tại Cơ quan công an, Nguyễn Thị Thu N khai nhận 15 gói nylon chứa tinh thể không màu mà N giao nộp cho cơ quan công an là ma túy đá do N mua của một người đàn ông tên Q, có số điện thoại 0702.775.xxx vào ngày 06/11/2023 với giá 2.000.000 đồng về để bán lại cho người nghiện nhằm kiếm lời. Khi cần mua ma túy, N sẽ nhắn tin vào Zalo Q đặt số lượng ma túy cần mua, sau đó, Q sẽ đặt xe giao hàng công nghệ tới địa chỉ mà N nhắn. Về việc bán ma túy cho con nghiện, N khai nhận khi người nghiện cần mua ma tuý sẽ gọi điện thoại vào số điện thoại 0906.325.xxx của Nhung hoặc liên lạc qua mạng xã hội Zalo của N tên “NhungNhung”, N chủ động hẹn địa điểm và trực tiếp giao dịch ma túy với người nghiện, thường không cố định một chỗ. Vào ngày 09/11/2023 N có bán 01 gói ma túy đá cho C với giá 500.000 đồng, C đưa trước cho N 300.000 đồng (gồm 01 tờ 200.000 đồng và 01 tờ 100.000 đồng) và nợ lại 200.000 đồng tại phòng số A, nhà số A Đường C, khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. N khai nhận bản thân bắt đầu sử dụng ma túy đá từ năm 2014 đến nay nhưng không thường xuyên và bắt đầu bán ma tuý khoảng 15 ngày nay. N thừa nhận bán ma tuý cho C được 02 lần (lần đầu là vào ngày 06/11/2023, lần thứ hai là vào ngày 09/11/2023). Từ khi bán ma túy N thu lợi bất chính khoảng 1.000.000 đồng (Bút lục: 17, 18, 20, 42, 107 – 110)
Kết luận giám định số 12664/KL-KTHS của Phòng K2, Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Kiều Hoài Bảo C là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,1494 gam loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 2,0986 gam. (Bút lục: 56)
Kết luận giám định số 12665/KL-KTHS của Phòng K2, Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thu N: (Bút lục:58)
- - Gói 1: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,1941 gam loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,1706 gam.
- - Gói 2: Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,5823 gam loại Methamphetamine. Khối lượng còn lại sau giám định là 2,5156 gam.
Vật chứng vụ án:
- Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2443/23 có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
3
- Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 1) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- Một (01) gói niệm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 2) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- 01 cân tiểu ly; 01 hộp giấy hình vuông; 01 túi xách màu xanh;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0906.325.xxx;
- Số tiền 300.000 đồng;
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi có gắn sim số 0909653200;
- 01 xe mô tô hiệu Honda Future biển số 52S5-0170. Chủ sở hữu là anh Hà Anh V1, thường trú tại 2 B, Phường B, quận B, xác minh tại Công an phường B kết quả, anh V1 không thực tế cư trú tại đây, đã bán nhà đi đâu, làm gì không rõ. Tra cứu vật chứng, xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu. C khai nhận xe mô tô mượn của một người bạn tên T (Không rõ lai lịch). Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu.
Đối với người tên Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh số điện thoại, rà soát đối tượng tuy nhiên chưa phát hiện đối tượng bán ma túy cho N. Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra truy xét khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số 219/CT-VKSTPTĐ ngày 23/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Kiều Hoài Bảo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố Nguyễn Thị Thu N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố luận tội đối với các bị cáo: Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, tác hại của ma túy và giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung của bản Cáo trạng; Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo Kiều Hoài Bảo C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, có thái độ ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét, tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp Biên bản đối chất; các Kết luận giám định số: 12664/KL-KTHS, 12665/KL-KTHS ngày 17/11/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường B và Công an phường B lập ngày 09/11/2023; Bản ảnh; cùng các tang vật chứng thu giữ được; các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Kiều Hoài Bảo C là người không được phép tàng trữ các chất ma túy nhưng bị cáo đã cất giữ trái phép: 2,1494g ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang tại trước nhà F Đường N, khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là Kiều Hoài Bảo C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” trong trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu N là người không được phép mua bán các chất ma túy nhưng đã bán cho C 2,1494g ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng và tàng trữ 2,6862g ma túy loại loại Methamphetamine mục đích để mua bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy N mua bán là 4,8356g ma túy loại loại Methamphetamine. N đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Kiều Hoài Bảo C vào các ngày 06/11/2023 và 09/11/2023 tại phòng số A, nhà số A Đường C, khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Là bị cáo Nguyễn Thị Thu N đã phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Các bị cáo Kiều Hoài Bảo C và Nguyễn Thị Thu N là thanh niên còn trẻ, nhưng không chịu tu dưỡng, làm ăn lương thiện mà lại đua đòi ăn chơi, muốn được thỏa mãn các nhu cầu thấp kém của bản thân nên đã đi vào con đường lạm
5
dụng các chất ma túy. Để thỏa mãn việc nghiện ma túy và có tiền để tiêu xài, các bị cáo C, N đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, bị cáo Kiều Hoài Bảo C cố ý thực hiện hành vi cất giữ trái phép 2,1494g ma túy loại loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu N đã bán cho C 2,1494g ma túy loại Methamphetamine và tàng trữ 2,6862g ma túy loại loại Methamphetamine mục đích để mua bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy N mua bán là 4,8356g ma túy loại loại Methamphetamine. N đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho C.
Hành vi tàng trữ trái phép các chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy do các bị cáo Kiều Hoài Bảo C và Nguyễn Thị Thu N thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, bài trừ tệ nạn sử dụng lậu chất ma túy, mà còn là một trong những nguyên nhân làm lây lan những căn bệnh nan y chưa có thuốc chữa, làm phát sinh các tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, khi quyết định hình phạt:
Đối với bị cáo Kiều Hoài Bảo C căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu N căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt áp dụng, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo thì mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là có phần phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận một phần.
[5] Đối với Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
6
- + Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2443/23 có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- + Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 1) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định;
- + Một (01) gói niệm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 2) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định;
- + 01 hộp giấy hình vuông;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 cân tiểu ly; 01 túi xách màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0906.325.xxx; Số tiền 300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi có gắn sim số 0909653200
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Future biển số 52S5-0170. Chủ sở hữu là anh Hà Anh V1, thường trú tại 2 B, phường B, quận B, xác minh tại Công an phường B kết quả, anh V1 không thực tế cư trú tại đây, đã bán nhà đi đâu, làm gì không rõ. Tra cứu vật chứng, xe mô tô trên không có trong cơ sở dữ liệu. C khai nhận xe mô tô mượn của một người bạn tên T (Không rõ lai lịch), Nghĩ nên giao Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức thông báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với người tên Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh số điện thoại, rà soát đối tượng tuy nhiên chưa phát hiện đối tượng bán ma túy cho N. Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra truy xét khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Kiều Hoài Bảo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
1.1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Kiều Hoài Bảo C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.
7
2.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Thị Thu N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2023.
3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu tiêu hủy: Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2443/23 có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; Một (01) gói niêm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 1) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; Một (01) gói niệm phong ghi vụ số 2444/23 (gói 2) có chữ ký của GĐV Lê Thị H1 và Nguyễn Thị Phương M - Cán bộ Công an thành phố T bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định; 01 hộp giấy hình vuông.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 cân tiểu ly; 01 túi xách màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0906.325.xxx; Số tiền 300.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi có gắn sim số 0909653200
- + Giao cho Chi cục Thi hành dân sự thành phố T: xe mô tô hiệu Honda Future biển số 52S5-0170 để làm thủ tục thông báo tìm chủ sở hữu trong thời gian 04 tháng, hết thời gian thông báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước
(Tài sản tịch thu tiêu hủy, tịch thu nộp ngân sách nhà nước, giao Chi cục Thi hành dân sự thành phố T được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số: 927/LNK-ĐCSMT ngày 02/4/2024 của Công an thành phố T).
4. Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc mỗi bị cáo Kiều Hoài Bảo C và Nguyễn Thị Thu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án. Những người vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Viết Nghiêm |
8
9
Bản án số 354/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 354/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
