| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 354/2024/DS-PT
Ngày: 24/4/2024
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Châu
Các thẩm phán:
- 1. Bà Châu Thị Điệp
- 2. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Anh – Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 216/2024/DSPT ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 452/2024/QĐPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1294/2024/QĐ-PT ngày 08/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Số A Khu phố E, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền:
1.1 Bà Ngô Thị Hằng M, sinh năm 1987; (có mặt)
Địa chỉ: Số A Đường C, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Hoặc ông Trịnh Duy T, sinh năm 1988; (có mặt)
Địa chỉ: Số A H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1966; (có mặt)
Địa chỉ: Số F L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại Đơn khởi kiện đề ngày 17/11/2022, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H có bà Ngô Thị Hằng M và ông Trịnh Duy T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 25/3/2018, bà Nguyễn Thị V có vay của bà Nguyễn Thị H số tiền 3.800.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Thời hạn trả cam kết từ ngày 25/3/2018 đến 25/3/2019. Vay bằng tiền mặt và bà V có viết giấy mượn nợ và ký tên, địểm chỉ ngay sau khi mượn tiền. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà V không trả tiền cho bà H. Vì tin tưởng bà V là người đàng hoàng, gia đình có chồng con là công an nên bà H tin tưởng nhiều lần cho khất nợ. Đến nay, bà V vẫn chưa thanh toán mà trốn tránh không giải quyết.
Nay, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nội dung sau:
- Buộc bà Nguyễn Thị V trả số tiền là 3.800.000.000 đồng. Trả một lần, toàn bộ, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà H không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền bà V mượn của bà H. Bà H yêu cầu tính lãi suất chậm trả kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị V đã được Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập tham gia tố tụng, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập tham gia phiên họp và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến trình bày.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Về hình thức: Xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và bị đơn bà Nguyễn Thị V.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho bà H 3.800.000.000 (Ba tỷ tám trăm triệu) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị V chậm thi hành khoản tiền phải thi hành, bà Nguyễn Thị V phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành cho bà Nguyễn Thị H theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 108.000.000 (Một trăm lẻ tám triệu) đồng.
Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 54.000.000 đồng cho bà Nguyễn Thị H theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0015400 ngày 11/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
* Ngày 17/10/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Người đại diện nguyên đơn của bà Nguyễn Thị H là bà Ngô Thị Hằng M và ông Trịnh Duy T thống nhất trình bày: Bà vinh có vay của bà H 3,8 tỷ đồng có viết giấy vay, nay quá thời hạn vay yêu cầu bà V trả lại tiền vay cho bà H. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị V trình bày: Tóa án sơ thẩm không tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng cho bà V, sai năm sinh sai địa chỉ, văn bản tố tụng bị tẩy xóa vi phạm tố tụng. Do việc triệu tập không hợp lệ nên bị đơn không thể đến tòa trình bày và cung cấp chứng cứ liên quan đến nội dung vụ kiện.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Giấy triệu tập ngày 30/01/2023 và Giấy triệu tập ngày 21/03/2023, Tòa án quận G triệu tập bà Nguyễn Thị V, (sinh năm: 1960 – Địa chỉ: 65/24/4 L, KP4, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh), Giấy triệu tập ngày 21/8/2023 triệu tập bà Nguyễn Thị V (sinh năm: 1960). Tuy nhiên, theo kết quả xác minh do công an phường T cung cấp và theo Căn cước công dân do bà V cung cấp thể hiện bà Nguyễn Thị V – sinh năm:1966, có địa chỉ thường trú tại 62/25/4 L, KP4, P. T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, Tòa án đã ghi sai năm sinh, địa chỉ của bà V cũng như tống đạt sai địa chỉ (theo kết quả của Bưu điện ngày 11/03/2023).
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, ngày 11/05/2023, Tòa án có tiến hành tống đạt, niêm yết thông báo về phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số 60 ngày 09/5/2023, thời gian mở phiên họp ngày 31/5/2023. Tuy nhiên, trong hồ sơ chính chỉ có Biên bản hòa giải và biên bản về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 03/7/2023 nhưng không có tài liệu về việc tống đạt, niêm yết thông báo đối với phiên họp này.
Đồng thời, đối với các việc tống đạt, niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278 của Tòa án Quận G cho bà V cũng chưa đúng theo quy định, cụ thể tại Biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho đương sự ngày 04/8/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXX-DS đề ngày 03/7/2023. Tuy nhiên Biên bản niêm yết công khai tại địa chỉ 62/25/4 L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 04/8/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXX-DS đề ngày 09/8/2023. Điều này là vi phạm vì ngày của Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thống nhất, ngày Tòa tiến hành niêm yết trước ngày ra quyết định.
Như vậy, phiên tòa vào ngày 11/9/2023 được xem là phiên tòa mở lần đầu sau khi việc tống đạt, niêm yết hợp lệ. Việc bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án vẫn xét xử là vi phạm tố tụng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn. Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa;
- Về thời hạn kháng cáo:
[1] Ngày 11/9/2023 Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 07/10/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị V nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 17/10/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị V có đơn kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn luật định, là hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
- Về thủ tục tố tụng:
[2] Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 25/3/2018 do nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trịnh Duy T cung cấp xác định nội dung ghi nhận tại giấy mượn tiền về việc bà Nguyễn Thị V mượn của bà Nguyễn Thị H số tiền 3.800.000.000 đồng. Thời hạn mượn từ ngày 25/3/2018 đến ngày 25/3/2019, không thỏa thuận lãi suất. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định bà Nguyễn Thị V sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị V sinh năm 1960 ký nhận tại giấy mượn tiền có phải là cùng một người hay không? Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cung cấp chứng cứ là giấy mượn tiền ngày 29/3/2018 (bản photocopy) do bà H nhận của bà V số tiền 200.000.000 đồng; Giấy mượn tiền 15/5/2018 (bản photocopy) bà H nhận của bà V số tiền 600.000.000 đồng và giao cho bà V sổ hồng mang tên Trần Ngọc H2 cho bà V giữ, 02 khoản tiền này chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm để làm rõ trong số tiền 3.800.000.000 đồng bà V đã mượn của bà H thì bà V đã trả được bao nhiêu tiền lãi và tiền gốc hay chưa trả lãi và trả gốc?
[4] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã phát hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-DS ngày 03/8/2023 (BL83) nhưng khi lập Biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho đương sự ngày 04/8/2023 (BL18) và niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử (BL19) thì tại các biên bản niêm yết công khai và biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm đều sửa tay, không được đại diện ủy ban Nhân dân phường xác nhận nội dung sửa chữa bằng tay đối với năm sinh của bị đơn và phần ngày phát hành quyết định nên không thể xác định được ngày phát hành là ngày (13/7/2023 hay 13/8/2023 và 09/8/2023 hay ngày 03/8/2023 tại Bút lục 18, 19) nên không thể xác định được Quyết định đưa vụ án ra xét xử được niêm yết, tống đạt là quyết định xét xử ban hành ngày nào? Như vậy cùng một số Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-DS có 02 hay 04 ngày phát hành khác nhau. Xét thấy tại hồ sơ vụ án chỉ lưu Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-DS ngày 03/8/2023 còn 03 quyết định còn lại không lưu trong hồ sơ vụ án nên không thể xác định ngày giờ xét xử của các quyết định này có cùng một ngày xét xử là ngày 21/8/2023 hay không. Do không xác định được ngày ban hành quyết định và ngày xét xử sơ thẩm lần thứ nhất nên việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất là không phải lỗi của bị đơn mà do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm đã niêm yết, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử không hợp lệ.
[5] Tại biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo trực tiếp cho đương sự ngày 04/8/2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXX-DS đề ngày 03/7/2023 còn tại biên bản niêm yết công khai tại địa chỉ 62/25/4 L, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là ngày 04/8/2023. Như vậy Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXX-DS đề ngày 09/8/2023 được niêm yết trước khi ban hành là không đúng, phiên tòa được mở ngày 21/8/2023 không hợp lệ.
Như vậy, phiên tòa vào ngày 11/9/2023 được xem là phiên tòa mở lần đầu sau khi việc tống đạt, niêm yết hợp lệ. Việc bị đơn vắng mặt nhưng Tòa án vẫn xét xử là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn.
[5] Ngoài ra, ngày 21/8/2023 Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 230/2023/QĐST-DS (BL86). Xét thấy, tại Quyết định hoãn phiên tòa số 230/2023/QĐST-DS ngày 21/8/2023 Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định “...Đã tiến hành mở phiên tòa... Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-DS ngày 19/7/2023” ( BL86) nhưng Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/QĐXXST-DS ngày 19/7/2023 không được lưu trong hồ sơ vụ án. Những sai sót này của cấp sơ thẩm trong quá trình thực hiện việc niêm yết, tống đạt văn bản tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị V; hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
[6] Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị hủy bản án sơ thẩm là có cơ sở, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[7] Án phí phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị V; Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, ông Trịnh Duy T và bị đơn bà Nguyễn Thị V.
- Giao toàn bộ hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị V không phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 37465 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 354/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 354/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị V; Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 340/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
