TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 354/2024/DSST
Ngày: 30/9/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng
tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng Vũ
2. Bà Trần Thị Dung
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 407/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 794/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C2
Địa chỉ: Số A, T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Số I, P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng H (Có mặt)
(Văn bản ủy quyền ngày 10/01/2024)
Bị đơn: Ông Hồ Chí C sinh năm 1973
Bà Dương Thị T sinh năm 1977
Địa chỉ: Số I, N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh C1 (Có mặt)
Địa chỉ: Số A, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Văn bản ủy quyền ngày 10/7/2024)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Kim Đ (Vắng mặt)
Địa chỉ: D, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/12/2021, Ngân hàng với ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T ký hợp đồng tín dụng số NT068/2021-HĐCV/NHCT820 và các văn bản bổ sung, số tiền vay 513.000.000 đồng, lãi suất, lãi quá hạn theo thỏa thuận hợp đồng, thời hạn vay: 84 tháng (từ ngày 14/12/2021), mục đích vay: thanh toán chi phí mua xe ô tô. Ngân hàng và ông Hồ Chí C ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số NT013/2021 ngày 14/12/2021, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng, lãi suất 18,5% năm.
Để đảm bảo khoản vay, ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp số NT068/2021/HĐBĐ/NHCT820 ngày 13/12/2021 để thế chấp tài sản là: Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 65A-306.79, giấy đăng ký xe ô tô số 65006793 do Phòng C3 Công an thành phố C3 cấp ngày 07/12/2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T đã không thực hiện trả nợ theo cam kết hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho ông C và bà T trả nợ nhưng ông C và bà T vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 30/9/2024, ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi 424.444.919 đồng (Trong đó: Tiền gốc 348.300.000 đồng. Tiền lãi là 21.487.762 đồng (Lãi trong hạn 20.901.326 đồng, L quá hạn 586.436 đồng). Nợ thẻ tín dụng 54.657.157 đồng.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 424.444.919 đồng (Trong đó: Tiền gốc 348.300.000 đồng. Tiền lãi là 21.487.762 đồng (Lãi trong hạn 20.901.326 đồng, L quá hạn 586.436 đồng). Buộc ông Hồ Chí C trả nợ thẻ tín dụng là 54.657.157 đồng.
Buộc ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng phát hành thẻ tín dụng cho đến khi ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng đã cầm cố tài sản thế chấp cho ông Nguyễn Kim Đ, Ngân hàng không biết việc bị đơn cầm cố tài sản thế chấp cho ông Nguyễn Kim Đ. Ngân hàng không đồng ý việc bị đơn giao cho bên thứ ba quản lý tài sản thế chấp. Khi bị đơn giao tài sản cho bên thứ ba không có thông báo cho Ngân hàng và không được sự đồng ý của Ngân hàng.
* Đại diện bị đơn trình bày:
Bị đơn có vay và thế chấp tài sản là ô tô theo đúng trình bày của phía ngân hàng tính đến ngày 30/9/2024 tổng nợ gốc và lãi bị đơn còn nợ ngân hàng hợp đồng tín dụng là 424.444.919 đồng và thẻ tín dụng là 54.657.157 đồng. Bị đơn thống nhất số nợ trên. Nay bị đơn không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên bị đơn đồng ý bán chiếc xe để Ngân hàng thu hồi nợ. Tuy nhiên, hiện nay chiếc xe biển số 65A-306.79 bị đơn đã cầm cố cho ông Nguyễn Kim Đ tiệm cầm đồ Phúc H1 – Địa chỉ: D, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Đề nghị Tòa án đưa ông Đ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Số tiền bị đơn cầm cố cho ông Đ là 300.000.000 đồng, thời hạn là 06 tháng kể từ ngày 30/01/2024. Đề nghị ngân hàng hỗ trợ bị đơn trả nợ cho Ngân hàng. Khi bị đơn cầm cố tài sản thế chấp cho ông Đ không có thông báo cho phía Ngân hàng biết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim Đ vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 424.444.919 đồng (Trong đó: Tiền gốc 348.300.000 đồng. Tiền lãi là 21.487.762 đồng (Lãi trong hạn 20.901.326 đồng, L quá hạn 586.436 đồng). Ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T phải chịu lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Buộc ông Hồ Chí C trả nợ thẻ tín dụng 54.657.157 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 01/10/2024 theo lãi suất thỏa thuận hợp đồng phát hành thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.
Đại diện bị đơn trình bày: Bị đơn thống nhất nợ gốc và lãi bị đơn còn nợ Ngân hàng như đại diện Ngân hàng trình bày. Do bị đơn không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên thống nhất Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Xét về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C2 với bị đơn ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T ký kết hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ thỏa thuận các đương sự tại hợp đồng tín dụng và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- Về vắng mặt người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim Đ đã được Tòa án cấp tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng của Ngân hàng:
Giữa Ngân hàng và ông Hồ Chí C, bà Dương Thị T ký hợp đồng tín dụng số NT068/2021-HĐCV/NHCT820 ngày 14/12/2021. số tiền vay 513.000.000 đồng, lãi suất, lãi quá hạn theo thỏa thuận hợp đồng, thời hạn vay: 84 tháng (từ ngày 14/12/2021), mục đích vay thanh toán chi phí mua xe ô tô. Ngân hàng và ông Hồ Chí C ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế số NT013/2021 ngày 14/12/2021, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng, lãi suất 18,5% năm.
Tại thời điểm ký hợp đồng ông C và bà T có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hợp đồng giao kết với Ngân hàng là hợp đồng tín dụng cũng như tự nguyện giao kết. Về hình thức, nội dung hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C và bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với khoản nợ vay. Đối với lãi suất: Theo hợp đồng tín dụng thể hiện mức lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng. Hợp đồng tín dụng trên đã được thực hiện và có hiệu lực thi hành. Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện bị đơn thống nhất nợ gốc và lãi bị đơn còn nợ như đại diện Ngân hàng trình bày. Tính đến ngày 30/9/2024, ông C và bà T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 424.444.919 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 348.300.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 21.487.762 đồng, nợ lãi quá hạn: 586.436 đồng). Nợ thẻ tín dụng là 54.657.157 đồng.
Do bị đơn ông C và bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C và bà T phải trả số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 424.444.919 đồng (Trong đó, nợ gốc 348.300.000 đồng, nợ lãi là 22.074.198 đồng). Ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận theo quy định khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Ông C phải trả số tiền nợ thẻ tín dụng là 54.657.157 đồng và lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng phát hành thẻ tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Đối với hợp đồng thế chấp và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của ngân hàng:
Để đảm bảo khoản vay, ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T và Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp số NT068/2021/HĐBĐ/NHCT820 ngày 13/12/2021 để thế chấp tài sản là: Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 65A-306.79, giấy đăng ký xe ô tô số 65006793 do Phòng C3 Công an thành phố C3 cấp ngày 07/12/2021.
Theo thỏa thuận hợp đồng, bên thế chấp được tiếp tục sử dụng, khai thác tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Bị đơn xác nhận hiện nay chiếc xe biển số 65A-306.79 bị đơn đã cầm cố cho ông Nguyễn Kim Đ tiệm cầm đồ Phúc H1 – Địa chỉ: D, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. Số tiền bị đơn cầm cố cho ông Đ là 300.000.000 đồng, thời hạn là 06 tháng kể từ ngày 30/01/2024. Việc bị đơn cầm cố tài sản thế chấp không thông báo và chưa được sự đồng ý của Ngân hàng. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày bị đơn chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cầm cố tài sản thế chấp. Trong khi phía Ngân hàng không biết việc bị đơn cầm cố tài sản thế chấp cho ông Đ. Khi bị đơn cầm cố tài sản thế chấp cho ông Đ không có thông báo cho Ngân hàng và không được sự đồng ý của Ngân hàng. Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Kim Đ tham gia tố tụng nhưng ông Nguyễn Kim Đ không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Nguyễn Kim Đ. Trường hợp bị đơn và ông Đ có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
Xét hợp đồng thế chấp, giấy đăng ký xe ô tô số 65006793 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C3 cấp ngày 07/12/2021 đã đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/12/2021 đúng quy định tại Điều 299 và Điều 317 Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở xác định hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và căn cứ nội dung hợp đồng thế chấp các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng hợp đồng thế chấp. Trường hợp ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và lãi của hợp đồng tín dụng, hợp đồng phát hành thẻ tín dụng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 65A-306.79, giấy đăng ký xe ô tô số 65006793 do Phòng C3 Công an thành phố C3 cấp ngày 07/12/2021 theo quy định tại khoản 1 Điều 299, Điều 317, khoản 6 Điều 320, khoản 5, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T phải chịu là 23.164.000 đồng (Hai mươi ba triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP C2 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.117.000 đồng (Mười triệu, một trăm mười bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001474 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, Điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 299, Điều 317, khoản 6 Điều 320, khoản 5, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C2.
Buộc bị đơn ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP C2 số tiền gốc 348.300.000 đồng; nợ lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 22.074.198 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 424.444.919 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu, bốn trăm bốn mươi bón nghìn, chín trăm mười chín đồng) và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả tất nợ.
Buộc ông ông Hồ Chí C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP C2 số tiền nợ thẻ tín dụng là 54.657.157 đồng và lãi phát sinh từ ngày 01/10/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng phát hành thẻ tín dụng đã ký cho đến khi trả tất nợ.
Trường hợp bị đơn ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nêu trên, thì Ngân hàng TMCP C2 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, số loại COROLLA, biển kiểm soát 65A-306.79, giấy đăng ký xe ô tô số 65006793 do Phòng C3 - Công an thành phố C3 cấp ngày 07/12/2021 hợp đồng thế chấp số NT068/2021/HĐBĐ/NHCT820 ngày 13/12/2021.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Hồ Chí C và bà Dương Thị T phải chịu là 23.164.000 đồng (Hai mươi ba triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).
Ngân hàng TMCP C2 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.117.000 đồng (Mười triệu, một trăm mười bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001474 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |
Bản án số 354/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 354/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
