|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 354/2025/HS-ST Ngày: 29-5-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
- Bà Nguyễn Hương Thủy
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 284/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1997, Nơi sinh: Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 487 Á, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1971; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/06/2024 và có mặt tại phiên tòa.
- Hà Duy H2, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1998, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 49/5 Đường C, Khu phố A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Duy H3, sinh năm: không rõ và bà Trần Thị H4, sinh năm: không rõ; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/06/2024 và có mặt tại phiên tòa.
- Lê Hoàng M, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1996, tại Tiền Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường L, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh B, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Kiều T1, sinh năm 1977; vợ Lưu Thị Tuyết Q, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng (Quyết định số: 340/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 16/3/2024; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 25/06/2024 và có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: E Đường E, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 25/06/2024, Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố T (nay là Công an Thành phố H) phối hợp với Công an phường L kiểm tra hành chính Khách sạn H5, tại số A N, Khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Thanh H1 tại phòng 102 có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu cất trong túi quần phía trước bên trái của H1 đang mặc trên người. H1 khai nhận đã sử dụng ma túy và mua ma túy trên từ Hà Duy H2 thông qua nick Zalo “Hdh” vào trưa ngày 23/06/2024 với giá 2.600.000 đồng, H1 mua để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết. Tổ công tác đưa H1 cùng vật chứng về trụ sở Công an phường L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Kết luận giám định số: 7717/KL-KTHS ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 Gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh H1 và hình dấu Công an phường L: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,1770g, loại Methamphetamine.
Trưa ngày 25/6/2024, Lê Hoàng M đến nhà trọ của Hà Duy H2 (tại nhà không số đối diện số F, đường T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) chơi. Lúc này có người gọi mua ma túy nên H2 đưa cho M 01 gói nylon chứa ma túy đá nhờ M đưa cho người đến mua ma túy (do Hoàng bận đi vệ sinh), M đồng ý và cất gói ma túy vào túi quần. Khoảng 15 giờ cùng ngày, tổ công tác kiểm tra hành chính tại địa chỉ trên, thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu ở túi quần phía sau bên trái của Lê Hoàng M.
Kết luận giám định số: 7733/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
Gói 2 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Hoàng M và hình dấu Công an phường T: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4913g, loại Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở trên của H2, phát hiện thu giữ 01 vỏ gói thuốc lá hiệu “JET” bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trên kệ giày cạnh cửa ra vào và thu giữ 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy trên ghế nệm ở phòng khách.
Kết luận giám định số: 7733/KL-KTHS ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
Gói 1 được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Hà Duy H2 và hình dấu Công an phường T: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2769g, loại Methamphetamine.
Qua xác minh, Hà Duy H2 mua ma túy từ một người đàn ông tên Đ (không rõ nhân thân lai lịch) qua tài khoản “Đat” trên ứng dụng Telegram 04 lần với giá từ 500.000 đồng đến 2.500.000 đồng để sử dụng và bán lại cho Nguyễn Thanh H1 (tài khoản Zalo “Hải N1”) 05 lần với giá từ 300.000 đồng đến 2.600.000 đồng thông qua tài khoản Zalo “Hdh” của H2, lần gần nhất là ngày 23/06/2024, H2 giao ma túy cho H1 tại trước nhà số A Đ, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, H2 cũng có bán ma túy cho các đối tượng nghiện khác từ tháng 04/2024. T2 lời từ các lần bán ma túy khoảng 800.000 đồng. Khi cần mua ma túy, Hoàng liên L1 với Đ qua ứng dụng Telegram, Đ hẹn gặp tại khu vực Đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi gặp, H2 nhận ma túy, đưa tiền mặt cho Đ rồi đi về nhà trọ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Nguyễn Thanh H1, Hà Duy H2, Lê Hoàng M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án và đồ vật thu giữ:
- 02 gói niêm phong vụ số: 2397/24 (G, G). Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định;
- 01 gói niêm phong vụ số: 2389/24. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định;
- 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy (của H1);
- 01 điện thoại di động hiệu POVA có gắn sim số 0937550654, đã qua sử dụng (của H1);
- 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy (của H2);
- 10 gói nylon không chứa gì bên trong;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0989.967.xxx, đã qua sử dụng (của H2).
Cáo trạng số: 284/CT-VKSTPTĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Nguyễn Thanh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hà Duy H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lê Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Nguyễn Thanh H1, Hà Duy H2 và Lê Hoàng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Hà Duy H2 và Lê Hoàng M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H1 từ 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Hà Duy H2 từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù. Buộc bị cáo H2 nộp số tiền thu lợi bất chính 800.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Hoàng M từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Vật chứng vụ án, đề nghị:
Tịch thu, tiêu hủy: 02 gói niêm phong vụ số: 2397/24 (G, G). Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong vụ số: 2389/24. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 10 gói nylon không chứa gì bên trong.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu POVA có gắn sim số 0937550654 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0989967079 (đã qua sử dụng).
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh H1, Hà Duy H2 và Lê Hoàng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; Bản tự khai của các bị cáo; Người chứng kiến; Tang vật thu giữ; Kết luận giám định và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định:
[3] Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 25/06/2024, tại Khách sạn H5, Khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh H1 có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,1770g, loại Methamphetamine trong túi quần phía trước bên trái với mục đích để sử dụng. Hành vi của Nguyễn Thanh H1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Hà Duy H2 có hành vi mua bán ma túy có khối lượng 4,9452 gam loại Methamphetamine, mục đích để bán, H2 đã bán cho Nguyễn Thanh H1 05 lần, 01 lần đưa cho Lê Hoàng M để giao cho người mua ma túy thì bị bắt quả tang. Hành vi của Hà Duy H2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/06/2024, tại nhà trọ của H2 (tại nhà không số đối diện nhà số F, đường T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), Lê Hoàng M cất giữ 01 gói ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4913g, loại Methamphetamine trong túi quần bên phải với mục đích giúp H2 giao cho người mua ma túy. Hành vi của Lê Hoàng M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với chất ma túy, để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng cũng như là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo H1 tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 4,1770g, loại Methamphetamine. Khối lượng bị cáo H2 mua bán trái phép chất ma túy là 4,9452g, loại Methamphetamine, H2 đã 05 lần bán ma túy cho H1, 01 lần đưa cho M để M giao cho người mua ma túy; bị cáo M được bị cáo H2 nhờ giao cho 01 gói ma túy có khối lượng 0,4913g, loại Methamphetamine để giao cho người mua ma túy, việc H2 mua ma túy về để bán M không biết. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[7] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Duy H2 khai nhận việc mua bán trái phép chất ma túy thu lợi khoảng 800.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với đối tượng tên Đ có tài khoản “Đat” trên ứng dụng Telegram bán ma túy cho H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, ra soát nhưng không xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.
[9] Về xử lý vật chứng:
[9.1] 02 gói niêm phong vụ số: 2397/24 (G, G). Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 gói niêm phong vụ số: 2389/24. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 10 gói nylon không chứa gì bên trong. Đây là chất ma tuý mà Nhà nước cấm tàng trữ và vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9.2] 01 điện thoại di động hiệu POVA có gắn sim số 0937550654, đã qua sử dụng (của H1); 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0989.967.xxx, đã qua sử dụng (của H2). Đây là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh H1, Hà Duy H2 và Lê Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50;
Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/06/2024.
-
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50;
Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Hà Duy H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Duy H2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/06/2024.
Buộc bị cáo Hà Duy H2 nộp số tiền thu lợi bất chính 800.000 (tám trăm ngàn) đồng vào ngân sách Nhà nước.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều
38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/06/2024.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 02 Gói niêm phong vụ số: 2397/24 (G, G). Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 gói niêm phong vụ số: 2389/24. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 01 chai nhựa tự chế để sử dụng ma túy; 10 gói nylon không chứa gì bên trong.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu POVA có gắn sim số 0937550654 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone có gắn sim số 0989967079 (đã qua sử dụng).
(theo Phiếu nhập kho số: NK25/317C ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
-
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thanh H1, Hà Duy H2, Lê Hoàng M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 354/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 354/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh H cùng đồng phạm
