Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 354/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lợi;
  2. Bà Dương Thị Thúy Duy.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 270/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 704/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 895/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Huỳnh N, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ F, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt có đơn.

Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ 42/2B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo bà Lê Thị Huỳnh N trình bày:

Về hôn nhân: Hôn nhân của bà và ông V là do tự tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng xuất hiện nhiều vấn đề không thống nhất, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình đến chuyện làm ăn, kinh tế.

Vào ngày 11/10/2017, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn nên bà quay về nhà mẹ ruột và sống ly thân từ đó cho đến nay. Cha mẹ hai bên đều biết chuyện nhưng không có ý kiến để ông bà tự giải quyết với nhau.

Nhiều năm ly thân, hai bên có gặp mặt, nói chuyện nhưng chỉ nói chuyện liên quan đến con chung, không có ý hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đến mức trầm trọng, có quay về chung sống cũng không hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 28/6/2014, hiện nay con chung đang sống cùng bà N và gia đình. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bà yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do bà kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với ông V. Đồng thời, bà xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa bảo lưu ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho ông V theo quy định nhưng ông vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của bà N, ông V để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Về nơi cư trú: Theo Biên bản xác minh ngày 30/7/2024 tại Công an xã K xác định ông V vẫn còn địa chỉ cư trú tại tổ E, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang chưa thực hiện tách chuyển đi nơi khác.

Về tình trạng hôn nhân: Ông Lê Văn V1 – cha ruột của bà N cho biết hôn nhân của ông V1 và bà N đúng như lời bà N trình bày. Ông và gia đình nhiều lần gặng hỏi nhưng bà N không chịu nói. Khi bà N quay về nhà cùng cháu N1, ông có liện hệ ông V1 cùng gia đình ông để tìm hiểu nguyên nhân nhưng không được. Bà N về nhà ông sinh sống từ năm 2017 đến nay, ông V1 cùng gia đình không tới lui thăm hỏi, không liên lạc, cũng không hàn gắn tình cảm vợ chồng cho ông bà. Nay bà N nhận thấy tình cảm đã không còn nên xin ly hôn, ông không có ý kiến, để bà tự quyết định.

Tại phiên tòa, bà N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V1 đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp: Bà N chung sống với ông V1 đến năm 2017 thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết: Ông Vũ hiện đang cư trú tại xã K, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Huỳnh N, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    1. Về hôn nhân: Bà N và ông Vũ t đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh An Giang vào năm 2014 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng bà N vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông V1. Tại phiên hòa giải, bà N yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay bà N vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với ông V1. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà N và ông V1 từ khoảng năm 2017 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, gia đình hai bên đã lên tiếng nhưng ông bà vẫn không quay lại chung sống. Bà N cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi, bà và ông V1 ly thân nhau, gia đình không hàn gắn để ông bà tự giải quyết. Lời trình bày của bà N phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án.

    Trong quá trình tố tụng, ông V1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và đã biết nội dung vụ án; ngoài ra, ông cũng đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia các phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng ông đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà phía bà N cung cấp. Do đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét thấy việc bà N trình bày là có cơ sở nên Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn giữa bà N và ông V1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

    1. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 28/6/2014, hiện nay con chung đang sống cùng bà N và gia đình. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn bà đồng ý tiếp tục nuôi cháu Y và không yêu cầu ông V1 cấp dưỡng nuôi con.

    Xét thấy, con chung hiện sống ổn định, được đi học, việc thay đổi chỗ ở, hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát của cháu sau này. Quan trọng hơn, cháu N1 có nguyện vọng được sống cùng bà N nên việc tiếp tục giao con chung cho bà N nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh và quy định của pháp luật.

    1. Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà N không yêu cầu ông V1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện này của bà.

    Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  4. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà Như không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Bà N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị Huỳnh N.

  1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị Huỳnh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 28/6/2014 cho bà Lê Thị Huỳnh N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Công nhận sự tự nguyện của bà Như k yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  1. Về án phí: Bà Lê Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009988 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú. Bà N đã nộp đủ.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2024), các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 354/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà N yêu cầu xin ly hôn với ông V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger