Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG

Bản án số: 354/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04/12/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG

Án

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Văn Đời

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thái Phương Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 291/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2025 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Phạm Lê Diệp H, sinh năm 1995; CCCD số: [...] cấp ngày 11/01/2023; Trú tại: 1 B, phường T, thành phố Đà Nẵng. có mặt

*Bị đơn: Ông Mai Đăng H1, sinh năm 1994 CCCD số: [...] cấp ngày 10/8/2021; Trú tại: A N, phường A, thành phố Đà Nẵng. có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Phạm Lê Diệp H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Mai Đăng H1 kết hôn vào năm 2019. Hôn nhân tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ) nay là phường A, thành phố Đà Nẵng. Giấy đăng ký kết hôn số 165 ngày 09 tháng 10 năm 2019. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, khác cách sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không chia sẻ và đồng hành những khó khăn trong cuộc sống. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Mặc dù chúng tôi sống chung một nhà nhưng thực sự chúng tôi đã không còn quan tâm, chăm sóc gì từ năm 2021 đến nay. Nay về tình cảm tôi xác định không còn yêu thương, nên xin tòa giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Mai Đăng H1.

- Về quan hệ con chung: tôi và ông Mai Đăng H1 có 01 con chung là Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019. Ly hôn xin nuôi con chung và ông H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định không có

* Bị đơn ông Mai Đăng H1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Phạm Lê Diệp H kết hôn vào năm 2019. Hôn nhân tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (cũ) nay là phường A, thành phố Đà Nẵng. Giấy đăng ký kết hôn số 165 ngày 09 tháng 10 năm 2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là sau khi kết hôn tôi đã theo ý của bà H là dọn ra ngoài căn hộ ở đường P để sinh sống vì bà H và mẹ tôi không hợp nhau trong tính cách vì quan điểm của 02 thế hệ khác nhau. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống tại căn hộ ở đường P thì bà H đã có những lời nói xúc phạm tôi và gia đình tôi. Khi tôi bị ốm, bà H không chăm sóc mà còn xúc phạm tôi, nhưng vì thương con gái nhỏ nên tôi chịu đựng. Nay cô H làm đơn xin ly hôn, xét thấy hiện nay chúng tôi đã không còn chung sống với nhau, không còn yêu thương, chăm sóc nên tôi đồng ý ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019. Ly hôn nguyện vọng của tôi được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng:

- Về thủ tục tố tụng: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó việc thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án:

+Về hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1 cuộc sống hôn nhân thực tế không còn tồn tại, vợ chồng không còn tin tưởng nhau nên căn cứ vào Điều 51,56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Lê Diệp H, ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1.

+Về con chung: bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1 xác nhận có 01 con chung là Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019. Hiện nay con chung là gái, còn nhỏ nên cần giao con chung cho bà Phạm Lê Diệp H nuôi dưỡng. Buộc ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng.

+Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn, bị đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Diệp H3 thì thấy:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1 kết hôn năm 2019 có đăng kí kết hôn tại UBND phường A, quận S, TP Đà Nẵng (cũ) nay là phường A, TP Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Theo bà H trình bày: Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không có sự chia sẻ và đồng hành trong cuộc sống. Mâu thuẫn được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Mặc dù sống chung một nhà nhưng tình cảm không còn, cả hai đã không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông H1.

Bị đơn ông H1 cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẩn là bất đồng quan điểm, thiếu sự quan tâm lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau. Nay bà H xin ly hôn xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông H1 đồng ý ly hôn với bà H.

Theo đơn xác nhận tại UBND phường A, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà H và ông H1 mâu thuẩn như thế nào địa phương không rõ, chỉ biết hiện nay bà H và ông H1 đã không còn sống chung, ông H1 đang sống với bố mẹ tại phường A, TP Đà Nẵng. Xét thấy, hiện nay bà H và ông H1 đã sống ly thân, mỗi người một nơi, ông H1 thống nhất ly hôn. Xét thấy, bà H và ông H1 đã thật sự tự nguyện ly hôn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 55 Luật HNGĐ công nhận sự thuận tình ly hôn của bà H và ông H1.

[2.2]. Về quan hệ con chung: bà Phạm Lê Diệp H và ông Mai Đăng H1 khai nhận có 01 con chung là Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019.

Ly hôn cả bà H và ông H1 đều có nguyện vọng nuôi con chung. Xét thấy bà H và ông H1 đều có việc làm thu nhập ổn định, bà H là nhân viên tại Công ty D, ông H1 là nhân viên tại Công ty V đều có đầy đủ điều kiện đảm bảo cho việc nuôi con, do vậy HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, xét thấy cháu Tuệ H2 là con gái, mới có 06 tuổi còn nhỏ đang trong giai đoạn phát triển cần sự chăm sóc, gần gủi tinh thần của người mẹ, đặc biệt người mẹ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất cũng như giới tính của con gái. Từ những nhận định như trên xét thấy cần giao con chung Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật HNGĐ năm 2014.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Việc nuôi con là trách nhiệm của cả hai vợ chồng do vậy cần buộc ông H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019 mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật HNGĐ năm 2014.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: bà H và ông H1 khai không có nên không xét.

Nếu sau này có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[2.4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà H phải nộp. Án phí cấp dưỡng nuôi con chung ông H1 phải nộp là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các Điều 51, 53, 54,55,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Phạm Lê Diệp H đối với ông Mai Văn H4.

    Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Lê Diệp H; sinh năm: 1995 và ông Mai Đăng H1; sinh năm: 1994

    Giấy chứng nhận kết hôn số 165 của UBND phường A, quận S, TP Đà Nẵng cũ, nay là phường A, TP Đà Nẵng cấp ngày 09/10/2019 không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Tuyên xử giao con chung là Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019 cho bà Phạm Lê Diệp H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành.

    Buộc ông Mai Đăng H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Mai Tuệ H2, sinh ngày 05/12/2019, mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian thực hiện cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày tuyên án cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực, Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi, theo lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

    Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000 đồng bà H phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004440 ngày 24/10/2025 tại Thi hành án TP Đà Nẵng.

    Án phí dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ông Mai Đăng H1 phải nộp 300.000 đồng.

  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND KV 2 Đà Nẵng;
  • - THA DS TPĐN;
  • - Phòng THA KV 2 Đà Nẵng;
  • - UBND phường An Hải, TPĐN;
  • - Hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 354/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Phạm Lê Diệp H xin ly hôn với ông Mai Đăng H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger