Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:354/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/12/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Quyết Thắng

Hội thẩm nhân dân:Bà Phạm Thị Mai Hồng

Ông Nguyễn Hồ Phong

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:Bà Đinh Thúy Hương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Phương Lan – Kiểm sát viên

Ngày 06/12/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QĐXX-ST ngày 12/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 329/2024/QĐ-HPT ngày 27/11/2024, giữa:

  • *Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989. CCCD số [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 13/11/2023. HKTT: Thôn N, xã N, P, Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện P, Hà Nội. Có mặt.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Bình T1, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1983. Mã số định danh cá nhân 001083048111. HKTT: Thôn N, xã N, P, Hà Nội. Hiện ở: Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  • * Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

    Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Bình T1 và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, Hà Nội vào ngày 25/03/2011. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T1 làm dâu và chung sống cùng gia đình anh tại thôn N, xã N, huyện P, Hà Nội. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Do điều kiện kinh tế nên năm 2014, chị đi lao động ở nước ngoài, đến cuối năm 2015 thì anh T1 cũng đi lao động ở nước ngoài nhưng mỗi người ở một nơi khác nhau. Từ năm 2018, tình cảm vợ chồng bắt đầu phai nhạt dần, vợ chồng cũng đã ly thân nhiều năm cho đến nay. Năm 2023, chị về Việt Nam, còn anh T1 vẫn ở nước ngoài nhưng anh chị không liên lạc với nhau và chị cũng không biết địa chỉ của anh T1. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị được ly hôn với anh Nguyễn Bình T1 để sớm ổn định cuộc sống.

  • Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013. Từ năm 2014, khi hai vợ chồng đi nước ngoài thì hai con của anh chị đều ở cùng với bố mẹ anh T1. Nay ly hôn, chị đề nghị giao cả hai cháu cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nghĩa vụ cấp dưỡng chị sẽ thỏa thuận với anh T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp nếu anh T1 cũng muốn nuôi con thì chị đề nghị giao cho chị chăm sóc cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013 và không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

  • Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị T tự nguyện chịu theo quy định.

  • * Bị đơn là anh Nguyễn Bình T1 hiện ở nước ngoài không rõ địa chỉ và vắng mặt tại phiên tòa.
  • * Ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H là bố mẹ anh Nguyễn Bình T1 trình bày: Chị Nguyễn Thị T2 kết hôn với anh Nguyễn Bình T1 và đăng ký kết hôn tại tại UBND xã N, huyện P, Hà Nội vào ngày 25/03/2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống tại gia đình nhà chồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh chị đều đi lao động tại nước ngoài. Nay chị T có đơn xin ly hôn với anh T1 thì đây là việc của anh chị và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T2 và anh Nguyễn Bình T1 có hai con là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013. Quá trình vợ chồng anh chị đi lao động tại Đài Loan thì ông bà là người chăm sóc con chung cho anh chị. Anh Nguyễn Bình T1 ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc điện thoại về với ông bà và các con của anh chị, đồng thời anh T1 vẫn gửi tiền về cho ông bà để chăm sóc các cháu. Bản thân anh T1 cũng mong muốn nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng. Ông bà sẽ có trách nhiệm chăm sóc các con của anh chị cho đến khi anh T1 trở về Việt Nam. Địa chỉ cụ thể của anh T1 ở nước ngoài thì ông bà không nắm rõ để cung cấp cho Tòa án nhưng ông bà cam kết nhận các văn bản tố tụng và có trách nhiệm thông báo lại cho anh T1.
  • Tại công văn số 10666/QLXNC – QLXC ngày 05/11/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an thành phố H thể hiện: Anh Nguyễn Bình T1 xuất nhập cảnh nhiều lần và ngày 13/10/2023 đã xuất cảnh khỏi Việt Nam và hiện nay không có thông tin nhập cảnh.

  • Tại phiên tòa sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Anh Nguyễn Bình T1 vắng mặt.

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hà Nội phát biểu:

    Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt và ở nước ngoài không rõ địa chỉ nhưng ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H (bố mẹ anh Nguyễn Bình T1) vẫn thường xuyên liên lạc với bị đơn và cam kết nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo lại cho bị đơn nên việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

    Về nội dung: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Bình T1 và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, Hà Nội vào ngày 25/03/2011 nên là hôn nhân hợp pháp. Xét của sống chung vợ chồng xa cách nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013. Từ khi vợ chồng anh chị đi lao động cho đến nay, con của anh chị vẫn sống cùng với ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H là bố mẹ anh T1. Nay ly hôn, chị đề nghị giao 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013 nên đề nghị giao hai con chung cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm hoãn việc cấp dưỡng đối với anh T1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Dành quyền khởi kiện dân sự cho các đương sự bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu. Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt và ở nước ngoài không rõ địa chỉ nhưng ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H (bố mẹ anh Nguyễn Bình T1) vẫn thường xuyên liên lạc với bị đơn và cam kết nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo lại cho bị đơn nên việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Nguyễn Bình T1 và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, Hà Nội vào ngày 25/03/2011 nên là hôn nhân hợp pháp. Xét của sống chung vợ chồng xa cách nhiều năm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013. Từ khi vợ chồng anh chị đi lao động cho đến nay, con của anh chị vẫn sống cùng với ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H là bố mẹ anh T1. Nay ly hôn, giao cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 cho anh T1 chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 cho ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H (bố mẹ anh Nguyễn Bình T1) chăm sóc cháu cho đến khi anh T1 trở về Việt Nam hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Dành quyền khởi kiện dân sự cho chị T2 và anh T1 bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T2 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn và chấm dứt quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Bình T1.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 và cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013. Giao cháu Nguyễn Hoàng Khánh L1, sinh ngày 06/8/2013 cho chị Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 cho anh Nguyễn Bình T1 chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm giao cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 06/01/2012 cho ông Nguyễn Viết B và bà Vũ Thị H (bố mẹ anh Nguyễn Bình T1) chăm sóc cháu cho đến khi anh Nguyễn Bình T1 trở về Việt Nam hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0023951 ngày 09/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày được tống đạt bản án.

Anh Nguyễn Bình T1 được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Cục THADS TP HN;
  • - UBND xã Nam Phong, huyện Phú Xuyên, HN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Quyết Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2024/HNGĐ-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 354/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Thi xin ly hôn anh Zang Xiaopei
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger