Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 354/2024/DS-PT

Ngày: 02/7/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Minh Tuấn;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hưng;
Bà Nguyễn Phương Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hòa - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 154/2024/TLST-DS ngày 29/02/2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 25 và ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bị kháng cáo và bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6899/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

· Nguyên đơn:

  1. Ông Đinh Xuân T sinh năm 1944; có mặt;
  2. Bà Lê Thị X sinh năm 1949 (là vợ của ông Đinh Xuân T); vắng mặt;

Cùng trú tại: Nhà số H phố Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Quang H sinh năm 1960; địa chỉ: Nhà số B, ngõ A, phố H, phường K, quận T, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 30/9/2022); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Vũ Hồng T1 - Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.

2

- Bị đơn:

  1. Ông Trịnh Ngọc T2 (tên gọi khác là H1) sinh năm 1946; vắng mặt và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt;
  2. Bà Trần Thị Kim Y sinh năm 1946 (là vợ của ông Trịnh Ngọc T2); có mặt;

Cùng trú tại: Nhà số A phố Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Trịnh Lê Bình s năm 1972 (là con của ông Trịnh Ngọc T2, bà Trần Thị Kim Y); trú tại: Nhà số A phố Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội (Văn bản ủy quyền ngày 28/12/2021); có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Đinh Thị Thanh T3 sinh năm 1973; trú tại Nhà số B ngách D ngõ D đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội (là con của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X); có mặt.
  2. Chị Đinh Thị Hằng N sinh năm 1976 (là con của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X); vắng mặt;
  3. Anh Đinh Ngọc H2 sinh năm 1980 (là con của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X); có mặt;
  4. Ông Phạm Quý H3 sinh năm 1963; vắng mặt;

Cùng nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số A, đường V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

  1. Ủy ban nhân dân quận B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân thành phố H; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X là nguyên đơn; chị Đinh Thị Hằng N, anh Đinh Ngọc H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là vợ chồng ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X trình bày:

Năm 1982, vợ chồng ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng khoảng 140m² đất tọa lạc tại địa chỉ hiện nay là số nhà A, 100C, tổ A, cụm D, phường C, quận B, thành phố Hà Nội của bà Nguyễn Thị M (bà M đã chết). Từ năm 1983 đến năm 1986, gia đình ông T, bà X đã tiến hành xây dựng 01 căn nhà 02 tầng trên diện tích 70,6m² nằm phía bên phải thửa đất nhận chuyển nhượng của bà M với kết cấu móng hình chữ “T”, có móng nhà

3

và ban công nhô ra khoảng 25cm so với mép tường giáp phần đất còn lại của gia đình.

Năm 1992, vợ chồng ông T, bà X chuyển nhượng phần đất còn lại (sau khi xây nhà) nằm bên phía tay trái thửa đất cho vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (tên gọi khác là H1), bà Trần Thị Kim Y. Khi chuyển nhượng đất, hai bên không thỏa thuận diện tích được chuyển nhượng cụ thể là bao nhiêu mà chỉ thỏa thuận với nhau là vợ chồng ông T, bà X chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2, bà Y phần đất còn lại nằm phía tay trái thửa đất của vợ chồng ông T, bà X (nhìn từ đường làng vào) với giá 12.500.000 đồng, không có diện tích cụ thể mà chỉ chuyển nhượng mảnh đất với các chiều dài, rộng cụ thể. Tuy không ghi rõ diện tích đất chuyển nhượng nhưng trong sơ đồ phác họa thửa đất chuyển nhượng (mặt sau Đơn xin mua chuyển nhượng nhà đất lập ngày 20/11/1992) do ông T2 vẽ đã thể hiện số đo chiều dài của 06 cạnh của thửa đất, văn bản chuyển nhượng này có xác nhận ranh giới của các hộ liền kề và có xác nhận, dán tem của UBND phường C, quận B.

Vợ chồng ông T, bà X khẳng định, việc vợ chồng ông T2, bà Y được sử dụng đất trên xuất phát từ giao dịch mua chuyển nhượng nhà đất với vợ chồng ông T, bà X, được xác lập ngày 20/11/1992 và tại sơ đồ thửa đất chuyển nhượng đã được ông T2 vẽ trong giấy mua chuyển nhượng có xác nhận của chính quyền thể hiện chiều dài các cạnh của thửa đất chuyển nhượng. Như vậy, trước ngày 20/11/1992 toàn bộ diện tích đất do gia đình ông T, bà X và vợ chồng ông T2, bà Y đang sử dụng hiện nay đều thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông T, bà X.

Tại sơ đồ chuyển nhượng, cạnh phía cuối thửa đất của vợ chồng ông T2, bà Y (vuông góc với ranh giới giữa hai bên) có chiều dài 2,0m, nhưng trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) hiện tại của vợ chồng ông T2, bà Y cạnh này có chiều dài tăng lên 0,21m. Do đó, có thể thấy rõ vợ chồng ông T2, bà Y đã sử dụng lấn sang đất của gia đình ông T, bà X. Tình tiết này phù hợp với thực tế sử dụng nhà đất khi ô văng, ban công và móng nhà gia đình ông T, bà X (xây dựng trước khi chuyển nhượng đất) được kê khai nằm trong phần đất vợ chồng ông T2, bà Y được cấp GCNQSDĐ.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, năm 1992, vợ chồng ông T2, bà Y tiến hành xây dựng căn nhà hiện nay đang ở. Khi thi công, tường nhà ông T2, bà Y xây đè lên móng chữ “T” của gia đình ông T, bà X với chiều rộng 0,25m, chiều dài 7,90m tại phần đất ranh giới giữa hai gia đình. Do ông T2, bà Y xây nhà sau và là nhà 01 tầng nên phần tường và phần mái nhà ông T2, bà Y xây chui dưới ô văng, ban công tầng 02 của căn nhà 02 tầng của gia đình ông T, bà X. Thời điểm ông T2, bà Y xây dựng nhà 02 tầng như hiện nay thì hai gia đình không xảy ra tranh chấp vì ông T2 có sang gia đình ông T, bà X và nói với ông T là phần móng của gia đình ông T, bà X chòm sang phần đất của vợ chồng ông T2, bà Y thì làm thế nào, ông T có nói lại là móng của gia đình ông T, bà X đến đâu thì

4

đất của gia đình ông T, bà X ở đấy. Do vậy, ông T2, bà Y tiến hành xây nhà như hiện nay. Khi ông T2, bà Y xây đến tầng 02, thì có phần ô văng của gia đình ông T, bà X đua sang bên nhà ông T2, bà Y khoảng 20cm so với phần tường nhà ông T2, bà Y.

Ông T, bà X xác định móng và tường nhà của ông T2, bà Y đang nằm trên phần đất của ông T, bà X (rộng 25cm, dài 7,9m). Thời điểm ông T2, bà Y xây nhà thì gia đình ông T, bà X chưa phát hiện ra ông T2, bà Y xây nhà chờm lên phần đất của gia đình ông T, bà X mà đến năm 2007 gia đình ông T, bà X mới biết, vì năm 2007 khi làm nhà mới, gia đình ông T, bà X có làm thủ tục xin cấp phép xây dựng, qua trao đổi với ông T2 thì ông T mới biết do ông T2 thừa nhận là đã xây sang đất của gia đình ông T, bà X. Sau đó, năm 2008, hai gia đình đưa nhau ra hòa giải cơ sở, đã hòa giải thành và lập biên bản ghi nhận hòa giải thành.

Để thực hiện được việc hợp thức hóa hành vi chiếm dụng các diện tích ngõ đi chung làm đất riêng của gia đình mình, ông H1 đã làm giả mạo “Đơn xin mua chuyển nhượng nhà” đề cùng ngày 20/11/1992 vẽ thêm đường vào (ngõ đi chung) vào diện tích đất chuyển nhượng (văn bản này không có xác nhận của UBND phường C, không có chữ ký của các hộ liền kề và chữ ký bên chuyển nhượng cũng không phải của vợ chồng ông T, bà X). Hiện nay 02 bản gốc của “Đơn xin mua chuyển nhượng nhà” cùng đề ngày 20/11/1992 ông T đang lưu giữ, cả hai bản này đều là mẫu viết tay, do ông T2 đưa cho ông T. Ông T sẽ xuất trình cho Tòa án vào ngày 27/8/2022, nếu không xuất trình được ông T đề nghị Tòa án căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết.

Việc vợ chồng ông T2, bà Y lấn chiếm phần đất giáp ranh giữa hai nhà, lấn chiếm đất ngõ sử dụng chung của hai gia đình, rãnh nước công cộng và đặt gác tấm đan lên tường nhà của ông T, bà X đã được ông T2, bà Y thừa nhận tại các biên bản hòa giải từ năm 2008 đến nay cũng như được thể hiện rõ nếu đối chiếu với sơ đồ thửa đất do chính tay ông H1 vẽ khi mua nhà đất của ông T, bà X đã được xác nhận của UBND phường C ngày 07/4/1993. Ông T2, bà Y nhiều lần thừa nhận việc đã lấn chiếm đất ngõ đi chung và đất sử dụng riêng của gia đình ông T, bà X.

Ngày 24/09/2008, gia đình ông T, bà X và vợ chồng ông T2, bà Y đã tự nguyện giải hòa tranh chấp đất đai trước sự chứng kiến của ông Mai Văn Đ (thời điểm này, ông Đ vừa là Bí thư Chi bộ, vừa là hàng xóm của hai gia đình) và đi đến thỏa thuận:

  • Phần diện tích lối đi chung hai gia đình và một phần diện tích vị trí tấm đan cổng mà vợ chồng ông T2, bà Y lấn sang đất của ông T, bà X, hiện đang nằm trong GCNQSDĐ của vợ chồng ông T2, thì vợ chồng ông T2, bà Y có trách nhiệm phải liên hệ với UBND phường Cống Vị để đưa ra khỏi GCNQSDĐ quyền sử dụng đất của vợ chồng ông T2, bà Y.

5

  • Gia đình ông T, bà X đồng ý giữ nguyên hiện trạng để vợ chồng ông T2, bà Y tiếp tục sử dụng phần diện tích trên. Tuy nhiên khi một trong hai gia đình làm lại nhà thì phải trả lại cho đúng với thực tế (nhà ông T2 xây lùi lại 25cm tại phần giáp ranh giữa hai nhà)

Ngày 30/09/2020, UBND phường C đã tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai giữa hai bên gia đình, trong đó hai bên đã thống nhất giải quyết được những vấn đề có tranh chấp, cụ thể:

  • Vợ chồng ông T2, bà Y đồng ý đưa diện tích lối đi chung hai gia đình và phần diện tích vị trí tấm đan cổng mà vợ chồng ông T2, bà Y lấn sang đất của gia đình ông T, bà X đang nằm trong GCNQSDĐ của vợ chồng ông T2, bà Y, thì vợ chồng ông T2, bà Y1 trách nhiệm phải đưa ra khỏi GCNQSDĐ của vợ chồng ông T2, bà Y.
  • Hai gia đình đồng ý giữ nguyên hiện trạng để vợ chồng ông T2, bà Y tiếp tục sử dụng phần diện tích đang tranh chấp ranh giới.
  • Khi một trong hai gia đình làm lại nhà thì phải trả lại cho đúng với thực tế (nhà ông T2 xây lùi lại 25 cm tại phần giáp ranh giữa hai nhà). Đồng thời, lúc đó sẽ đưa diện tích nhà của vợ chồng ông T2, bà Y xây đè lên móng của gia đình ông T, bà X sẽ được trả lại cho gia đình ông T, bà X để hợp thửa cho ông T, bà X.

Như vậy, chính bản thân ông T2, bà Y đã nhiều lần thừa nhận bằng văn bản trước sự chứng kiến của Tổ dân phố và UBND phường C việc mình lấn chiếm đất như nội dung ông T, bà X1 trình bày nêu trên.

Lý do hai bên đã hòa giải thành ở chính quyền địa phương mà không thực hiện được hoàn toàn là do bên ông T2, bà Y không thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên, ông T, bà X khẳng định diện tích đất ông T2, bà Y yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án buộc ông T, bà X phải trả cho ông T2, bà Y tại phần đất giáp ranh giữa hai gia đình là không có căn cứ vì:

  • Trước khi chuyển nhượng đất cho ông T2, bà Y diện tích đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình chúng tôi.
  • Khi chuyển nhượng đất cho ông T2, bà Y chúng tôi không chuyển nhượng diện tích đất này (theo sơ đồ thửa đất tại giấy mua chuyển nhượng có xác nhận của UBND phường C)
  • Ông T2, bà Y xây nhà (01 tầng) sau và đè lên móng chữ T căn nhà của gia đình ông T, bà X xây trước đó cho nên phần tường nhà và mái nhà chui phía dưới ô văng và ban công tầng 2 của gia đình ông T, bà X.
  • Ông Từ, bà Y đã tự lập giấy mua chuyển nhượng nhà đất đề cùng ngày 20/11/1992 nhưng không có xác nhận của UBND phường và các hộ giáp ranh cũng không có chữ ký của ông T, bà X để được cấp GCNQSDĐ cả các phần đất lấn chiếm của ông T, bà X.

6

Vì vậy, ông T, bà X khởi kiện yêu cầu:

  • Huỷ GCNQSDĐ do UBND thành phố H cấp ngày 14/12/2001 mang tên ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.
  • Buộc vợ chồng ông T2, bà Y phải trả lại phần đất đã lấn chiếm khoảng 6,4m² thuộc ngõ chung của hai gia đình;
  • Buộc vợ chồng ông T2, bà Y phải trả lại diện tích 2,23m² đất lấn sang phần đất của gia đình ông T, bà X và phần đất thuộc vị trí tấm đan gần cổng có diện tích 0,10m².
  • Ông T, bà X không đồng ý đối với yêu cầu phản tố của ông T2, bà Y, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông T2, bà Y và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, bà X.

Bị đơn là bà Trần Thị Kim Y, ông Trịnh Ngọc T2 (H1) có yêu cầu phản tố và trình bày:

Năm 1992, vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (tên gọi khác là H1), bà Trần Thị Kim Y có nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X với diện tích 44m² tại địa chỉ số A, Tổ A, Cụm D, Vạn Phúc T4 (nay là số H phố Đ), phường C, quận B, thành phố Hà Nội (sau đây viết tắt là “Khu đất”). Giá trị chuyển nhượng “Khu đất” thời điểm đó là 01 chỉ vàng/2m², vợ chồng ông T2, bà Y đã trả đủ cho ông T, bà X số tiền là 2,2 cây vàng tương đương 44m² đất. Tại thời điểm chuyển nhượng, hai bên không có giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì thời điểm đó Nhà nước không cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất, vợ chồng ông T2, bà Y có xây nhà và phần sân phía trước trên chính diện tích đất nhận chuyển nhượng của ông bà Xuân T. Khi vợ chồng ông T2, bà Y đến xem đất để nhận chuyển nhượng thì thấy “Khu đất” bị bịt kín, không có lối đi ra ngõ nên ông T2 đã hỏi bà X. Bà X hứa sẽ xin nhà cụ T5 là mẹ nuôi của bà X và là chủ thửa đất tiếp giáp mặt phía trước của nhà ông T2, bà Y hiện tại (được thể hiện trên sơ đồ kèm theo Đơn xin mua chuyển nhượng nhà là phần đường làng). Vợ chồng ông T2, bà Y tin tưởng bà X nên đã đồng ý mua đất nhưng khi ông T2, bà Y dọn về ở thì bị cụ T5 không cho đi qua đất của gia đình cụ T5. Ông T2 đã yêu cầu bà X thu xếp cho vợ chồng ông T2, bà Y một lối đi như đã hứa trước đó. Ông T, bà X đã đồng ý lùi lại một phần đất của mình rộng khoảng gần 01m để gia đình bà X có lối đi. Sau này, ông T2 có đặt các tấm bê tông lên để tạo thành lối đi và sử dụng ổn định, có đóng thuế nhà đất với toàn bộ diện tích nói trên từ năm 1992 đến nay. Thời điểm ông T2 làm ngõ đi thì hai bên gia đình không xảy ra tranh chấp vì thời điểm đó ông T, bà X đồng ý cho vợ chồng ông T2, bà Y được sử dụng lối đi này làm lối đi riêng và còn đồng ý cho ông T2 đặt tấm đan lên tường nhà ông T (khoảng 5cm) để làm cổng. Ông T2 khẳng định đây là lối đi riêng của vợ chồng

7

ông T2, bà Y; ngoài lối đi này vợ chồng ông T2, bà Y không còn lối đi nào khác để vào nhà.

Đến ngày 20/11/1992, sau khi ông T2, bà Y xây nhà xong thì ông T có chủ động làm “Đơn xin mua chuyển nhượng nhà” gửi Sở Nhà đất thành phố H để hợp thức việc chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T2, bà Y. Đơn xin có chữ ký xác nhận của hai bên và xác nhận của UBND phường C. Việc đo đạc, vẽ sơ đồ và thực hiện thủ tục tại UBND Phường và Sở Nhà đất do ông T trực tiếp thực hiện.

Trước khi xây nhà như hiện nay, ông T2 có sang trao đổi với ông T, bà X và ông T, bà X đồng ý để ông T2, bà Y xây dựng. Ông T2 khẳng định vợ chồng ông T2, bà Y không xây đè lên móng nhà của gia đình ông T, bà X. Ông T2, bà Y xây dựng trên diện tích đã nhận chuyển nhượng của gia đình ông T, bà X; phần khe hở giữa hai nhà, khi hòa giải, ông T2, bà Y không rõ thuộc của bên nào nên ông T2, bà Y đồng ý để cho nhà ông T. Đến nay không hòa giải được, ông T2, bà Y đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, ông T2, bà Y xác định phần khe hở này là của gia đình ông T2, bà Y2 và ông T2, bà Y đã có yêu cầu phản tố về phần này.

Năm 1998, biết được thông tin UBND quận B có chính sách cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình sử dụng đất trên địa bàn nên vợ chồng ông T2, bà Y cũng chuẩn bị hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ. Theo hướng dẫn của cán bộ thực hiện thủ tục cấp GCNQSDĐ, vợ chồng ông T2, bà Y kê khai diện tích đất đang được gia đình sử dụng ổn định, có đóng tiền thuế sử dụng đất và không có tranh chấp để ghi nhận vào GCNQSDĐ. Diện tích vợ chồng ông T2, bà Y đã kê khai cụ thể là 49,2m², hình dạng “Khu đất” theo đúng như trên GCNQSDĐ. Trong quá trình chuẩn bị hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, bà X khi đó đang là Tổ trưởng tổ dân phố cũng tham gia hỗ trợ UBND phường hướng dẫn thủ tục, thu bộ hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của các hộ gia đình trong khu phố. Trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất nằm trong thủ tục xin cấp GCNQSDĐ của ông T2, Y cũng đã có đầy đủ chữ ký các hộ gia đình sử dụng đất liền kề với “Khu đất” để xác nhận về diện tích đất ông T2, Y đang sử dụng là hợp pháp, không tranh chấp liền kề, số đo chi tiết trên sơ đồ theo đúng GCNQSDĐ, các hộ liền kề bao gồm 03 gia đình là gia đình ông Đào T6, gia đình ông Trương Văn P và gia đình ông T, bà X.

Toàn bộ quá trình UBND phường C, UBND quận B thẩm định, đo đạc và kiểm tra hiện trạng “Khu đất” đều diễn ra công khai, gia đình ông T, bà X đều biết và nắm rõ thông tin. Thời điểm năm 2001, thành phố Hà Nội có chủ trương rà soát, cấp GCNQSDĐ cho toàn bộ Hộ gia đình đủ điều kiện trên địa bàn thành phố. Đây là chủ trương lớn của Nhà nước triển khai rộng khắp Thủ đô nên các hộ gia đình đang sử dụng đất đều nắm rất rõ quy trình cấp GCNQSDĐ và việc thẩm định của cơ quan nhà nước cũng là rất khắt khe, chặt chẽ vì là lần đầu cấp GCNQSDĐ. Ngày 14/12/2001, gia đình ông T, bà X được Sở Đ cấp Giấy chứng

8

nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với thửa đất số 50 tờ bản đồ số 7E- II - 33 với diện tích đất ở sử dụng riêng là 49,20m² bao gồm cả phần ngõ đi riêng, tại địa chỉ A Tổ A Cụm D V, phường C, quận B, thành phố Hà Nội mang ông T2, bà Y.

Năm 2008, vợ chồng ông T, bà X sửa nhà, do muốn có hai lối đi vào nhà nên chuyển hẳn cửa chính của gia đình quay sang phần đất của ông T2, bà Y được cấp GCNQSDĐ phần ngõ đi riêng và yêu cầu ông Từ, bà Y phải đưa 6,4m² đất ra khỏi GCNQSDĐ của ông T2, bà Y để làm lối đi chung cho hai gia đình. Thời điểm đó, con gái ông T2, bà Y đang làm thủ tục xin kết nạp Đảng, cần thẩm tra lý lịch, xin ý kiến nhận xét của cấp ủy Chi bộ Đảng tại địa phương nên gia đình ông T2, bà Y không muốn có xung đột, khiếu kiện với bất kỳ ai đặc biệt là gia đình ông T, bà X vì bà X là Tổ trưởng Tổ dân phố, thành phần trong cấp ủy Chi bộ Đảng tại địa phương thời điểm đó. Thêm vào đó, nể tình cả hai bên gia đình cũng đều là hàng xóm gắn bó nhiều năm, tuổi tác cũng đã cao nên ông T2, bà Y đã có ý định nhượng bộ để đưa 6,4m² đất ra khỏi GCNQSDĐ. Biên bản họp ngày 24/09/2008 giữa hai gia đình thể hiện nội dung ông T2 đồng ý đưa diện tích đất nói trên ra khỏi GCNQSDĐ được lập trong hoàn cảnh ông T2, bà Y phải chịu rất nhiều áp lực từ phía bà X. Sau khi hai gia đình đạt được thỏa thuận như trên thì ông T, bà X lại cho rằng ông T2, bà Y xây nhà đè lên móng nhà của ông T, bà X và tiếp tục đòi ông T2, bà Y trả lại diện tích khoảng 2,23m² tiếp giáp (dài 8,92m, rộng 0,25m). Ông T2, bà Y cho rằng đây là những yêu sách không thể chấp thuận được, vượt quá sức chịu đựng của ông T2, bà Y. Vì vậy, ông T2, bà Y đã bác bỏ toàn bộ các thỏa thuận hòa giải trước đó và đề nghị đưa tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền để giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Cần phải nói thêm rằng, toàn bộ quá trình ông T2, bà Y xây nhà, ông T, bà X đều biết và nắm rất rõ, quá trình xây dựng không có bất kì ý kiến tranh chấp hay phản đối nào. Trên thực tế, chính nhà của ông T, bà X (phần tầng 02 và mái nhà) đang được xây vươn sang phần đất của ông T2, bà Y, cụ thể là vươn sang sân phơi tầng 02 với diện tích khoảng 2.23m² (dài 8,92m, rộng 0,25m). Mặc dù nhận thức rõ việc ông T, bà X xây lấn chiếm sang đất của ông T2, bà Y nhưng để duy trì tình cảm giữa 02 gia đình nên ông Từ, bà Y luôn nhẫn nhịn và chưa phản đối. Tuy nhiên, càng ngày ông T, bà X càng được đà lấn lướt, đưa ra nhiều đòi hỏi phi lý và bỏ qua hết tình cảm láng giềng mà ông T2, bà Y đã dành cho ông T, bà X từ trước đến nay.

Ông T2, bà Y cho rằng, việc khởi kiện của ông T, bà X là hoàn toàn không có căn cứ, mục đích duy nhất của ông T, bà X chỉ muốn sử dụng lối đi riêng của ông T2, bà Y để sử dụng thành lối đi chung của hai nhà, còn các yêu cầu khởi kiện khác chẳng qua cũng chỉ là đưa ra để tạo sức ép cho mục đích trên của của ông T, bà X. Do đó, ông T2, bà Y đề nghị Tòa án dựa trên những tài liệu, chứng cứ và quy định pháp luật hiện hành bác bỏ toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của của ông T, bà X. Đồng thời tiến hành xác định chính xác lại diện tích,

9

ranh giới đất giữa hai gia đình, buộc bên lấn chiếm trả lại hiện trạng đất cho ông T2, bà Y.

Ông T2, bà Y có yêu cầu phản tố, cụ thể như sau:

Theo nội dung Đơn xin mua chuyển nhượng nhà gửi Sở Nhà đất thành phố H ngày 20/11/1992 giữa hai gia đình (Giấy tờ mua chuyển nhượng năm 1992), bề ngang của “Khu đất” ông T2, bà Y nhận chuyển nhượng tính từ điểm tiếp giáp với thửa đất nhà bà Hai T7 (nay là nhà ông T6, bà H4) đến ranh giới với nhà ông T, bà X được thể hiện là 5,4m, con số này thể hiện trong GCNQSDĐ của ông T2, bà Y là 5,24m. Ngoài ra, căn cứ vào hồ sơ kỹ thuật thửa đất được Công ty TNHH T8 tiến hành đo lại vào ngày 20/10/2020, bề ngang “Khu đất” thực tế ông T2, bà Y đang sử dụng được ghi nhận là 5,23m. Như vậy, chiều rộng “Khu đất” ông T2, bà Y đang thực tế sử dụng còn thiếu 0,17 m so với chiều rộng “Khu đất” ghi nhận tại Giấy tờ mua chuyển nhượng năm 1992. Đối chiếu số liệu thực tế và số liệu theo Giấy tờ mua chuyển nhượng năm 1992, cho tới thời điểm này ông T2, bà Y nhận thấy rằng ông T, bà X đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận tại giấy tờ mua chuyển nhượng giữa hai bên và bàn giao không đầy đủ diện tích đất cho ông T2, bà Y. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015, ông T2, bà Y đề nghị Tòa án yêu cầu ông T, bà X phải thực hiện theo thỏa thuận giữa hai gia đình và thực hiện nghĩa vụ bàn giao diện tích đất theo đúng như nội dung Giấy tờ mua chuyển nhượng ngày 20/11/1992, cụ thể là hoàn trả đầy đủ cho ông T2, bà Y 1,343m² (rộng 0,17m và dài 7,9m) chạy dọc theo phần tiếp giáp giữa hai thửa đất của hai gia đình.

Ngay sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông T, bà X năm 1992, ông T2, bà Y đã tiến hành xây nhà trên toàn bộ phần đất tiếp giáp nhà ông T, bà X đã xây trước đó. Thời điểm đó, hiện trạng ngôi nhà của gia đình ông T, bà X được xây từ trước có phần tường tầng 01 tiếp giáp với tầng 01 của ông T2, bà Y nhưng phần tầng 02 lại xây vươn ra ngoài, lấn chiếm sang thửa đất của ông T2, bà Y khoảng 2,3m² (dài 8,02m, rộng 0,25m).

Việc lấn chiếm như trên của gia đình ông T, bà X đã xâm phạm nghiêm trọng quyền khai thác, sử dụng mặt đất, khoảng không gian trên mặt đất thuộc quyền sử dụng đất của ông T2, bà Y. Vì vậy, ông T2, bà Y đề nghị Tòa yêu cầu ông T, bà X phải phá dỡ toàn bộ phần diện tích công trình đang lấn chiếm khoảng 2,3m² (dài 8,02m, rộng 0,25m) và hoàn trả đầy đủ khoảng không gian trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T2, bà Y.

Do đó, ông T2, bà Y yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

  • Yêu cầu gia đình ông T, bà X phải hoàn trả đầy đủ diện tích đất chuyển nhượng cho ông T2, bà Y theo giấy tờ mua chuyển nhượng ngày 20/11/1992, cụ thể là hoàn trả 1,343m² (rộng 0,17m và dài 7,9m) chạy dọc theo phần tiếp giáp giữa hai thửa đất của hai gia đình.

10

  • Buộc gia đình ông T, bà X phải phá dỡ toàn bộ phần diện tích công trình đang lấn chiếm và hoàn trả đầy đủ khoảng không gian trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông T2, bà Y, cụ thể là khoảng 2 m2 (dài 7,9 m; rộng 0,25 m) thuộc về phần tầng 2 của nhà ông T, bà X đang vươn sang phần sân phơi của ông T2, bà Y.
  • Không cho gia đình ông T, bà X đi chung vào ngõ đi của gia đình bà Y, ông T2.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2023/DS-ST ngày 25 và 27 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

Căn cứ các điều 26, 37, 38, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015; điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 14 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1990; khoản 2 điều 26, điểm a khoản 2 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X cụ thể như sau:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10101150579 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 7E-II-33, diện tích 49,2m² tại 100C tổ 10A cụm D, phường C, quận B, thành phố Hà Nội mang tên ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001.
  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X về việc yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y phải trả lại phần đất đã lấn chiếm khoảng 6,4m² thuộc ngõ chung của hai gia đình và buộc gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y phải trả lại diện tích 2,23m² đất lấn sang phần đất của gia đình nguyên đơn và phần đất thuộc vị trí tấm đan gần cổng có diện tích 0,10m².
  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X về việc yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất lối đi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10101150579 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 7E-II-33, tại 100C tổ 10A cụm 4, phường C, quận B, thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cấp cho ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y là ngõ đi chung của 2 gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn cụ thể như sau:

  • Buộc ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X phải trả cho ông Trịnh Ngọc T2 và bà Trần Thị Kim Y diện tích đất 1,343m² (rộng 0,17m và dài 7,9m) chạy dọc

11

theo phần tiếp giáp giữa hai thửa đất của hai gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

  • Buộc ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X phải phá dỡ toàn bộ phần diện tích công trình đang lấn chiếm và hoàn trả đầy đủ khoảng không gian khoảng 2 m2 (dài 7,9m, rộng 0,25m) cho gia đình ông Trịnh Ngọc T2 và bà Trần Thị Kim Y
  • Xác định phần diện tích ngõ đi khoảng 6,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10101150579 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 7E-II-33, tại 100C tổ 10A cụm 4, phường C, quận B, thành phố Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cấp cho ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y thuộc ngõ riêng của gia đình ông Trịnh Ngọc T2 và bà Trần Thị Kim Y. Gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X không được sử dụng ngõ đi vào nhà gia đình ông Trịnh Ngọc T2 và bà Trần Thị Kim Y.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 09/10/2023, nguyên đơn là ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Thị H5, chị Đinh Thị Hằng N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; đánh giá không đầy đủ, khách quan tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 12/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 16/QĐ-VKS-DS kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên, cụ thể như sau:

  1. Ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thống nhất công nhận phần ngõ đi có diện tích 6,4m² (chiều rộng là 1,22m; chiều dài cạnh giáp nhà của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X là 6,26m, chiều dài cạnh giáp rãnh nước là 7,2m) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 7760.2001.QĐUB cấp, hồ sơ gốc số 39223.2001 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cho vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y và đang có tranh chấp giữa gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X với vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y là ngõ đi chung của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

Khi sử dụng ngõ đi chung nêu trên, gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y phải có trách nhiệm

12

tôn trọng, đảm bảo quyền sử dụng ngõ đi chung của hai gia đình, không được phép cản trở, gây khó khăn cho nhau trong quá trình sử dụng ngõ đi chung; gia đình nào không tôn trọng, không đảm bảo, cản trở, gây khó khăn cho gia đình bên kia về quyền sử dụng ngõ đi chung phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

  1. Phần diện tích đất 2,23m² (chiều rộng 25cm, chiều dài 7,9m) nằm giữa phần nhà ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và phần nhà của ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.
  2. Phần diện tích tấm đan trên cổng do ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng (phần nằm trên tường của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X) có diện tích 9,4cm² (9,4cm x 01cm) thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X.
  3. Đối với phần diện tích 02m² tai trần (chiều dài là 7,9m và chiều rộng là 0,25m) ở phần tầng 02 ngôi nhà của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X đang vươn sang phần sân thượng ngôi nhà của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thì hai bên thống nhất khi vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng nhà mới hoặc ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X xây dựng nhà mới thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y (trường hợp bên nào xây dựng nhà trước thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y). Nếu một trong hai bên không thực hiện đúng thỏa thuận đã cùng nhau xác lập về việc giải quyết vụ án, bên còn lại có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án đối với nội dung các bên đã thỏa thuận và được Tòa án ghi nhận.
  4. Ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X, Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo các thỏa thuận nêu trên của hai bên.
  5. Án phí: Nguyên đơn, bị đơn mỗi bên chịu 50% án phí dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • Về chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và hầu hết những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Sự thỏa thuận của các đương sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 10/3/2021, ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X có đơn khởi kiện đề nghị: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cho ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y; buộc gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y phải trả lại phần đất đã lấn chiếm khoảng 6,4m² thuộc ngõ chung của hai gia đình; buộc gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y phải trả lại diện tích 2,23m² đất lấn sang phần đất của gia đình nguyên đơn và phần đất thuộc vị trí tấm đan gần cổng có diện tích 0,10m². Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 34, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2023, nguyên đơn là ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Ngọc H2, chị Đinh Thị Thanh T3 có đơn kháng cáo đúng quy định tại Điều 272, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên, cụ thể như sau:

[3.1] Ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thống nhất công nhận phần ngõ đi có diện tích 6,4m² (chiều rộng là 1,22m; chiều dài cạnh giáp nhà của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X là 6,26m, chiều dài cạnh giáp rãnh nước là 7,2m) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 7760.2001.QĐUB cấp, hồ sơ gốc số 39223.2001 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cho vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y và đang có tranh chấp giữa gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X với vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y là ngõ đi chung của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y. Khi sử dụng ngõ đi chung nêu trên, gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y phải có trách nhiệm tôn trọng, đảm bảo quyền sử dụng ngõ đi chung của hai gia đình, không được phép cản trở, gây khó khăn cho nhau trong quá trình sử dụng ngõ đi chung; gia đình nào không tôn trọng, không đảm bảo, cản trở, gây khó khăn cho gia đình bên kia về quyền sử dụng ngõ đi chung phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

14

[3.2] Phần diện tích đất 2,23m² (chiều rộng 25cm, chiều dài 7,9m) nằm giữa phần nhà Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và phần nhà của ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

[3.3] Phần diện tích tấm đan trên cổng do ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng (phần nằm trên tường của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X) có diện tích 9,4cm² (9,4cm x 01cm) thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X.

[3.4] Đối với phần diện tích 02m² tai trần (chiều dài là 7,9m và chiều rộng là 0,25m) ở phần tầng 02 ngôi nhà của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X đang vươn sang phần sân thượng ngôi nhà của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thì hai bên thống nhất khi vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng nhà mới hoặc ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X xây dựng nhà mới thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y (trường hợp bên nào xây dựng nhà trước thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y). Nếu một trong hai bên không thực hiện đúng thỏa thuận đã cùng nhau xác lập về việc giải quyết vụ án, bên còn lại có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án đối với nội dung các bên đã thỏa thuận và được Tòa án ghi nhận.

[3.5] Ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X, ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo các thỏa thuận nêu trên của hai bên.

[4] Như vậy, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[5] Về án phí án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận nguyên đơn, bị đơn mỗi bên chịu 50% án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, cả nguyên đơn, bị đơn đều là người cao tuổi (ông Đinh Xuân T sinh năm 1944, bà Lê Thị X sinh năm 1949, ông Trịnh Ngọc T2 (H1) sinh năm 1946, bà Trần Thị Kim Y sinh năm 1946) nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Anh Đinh Ngọc H2, chị Đinh Thị Thanh T3 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

15

Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số ngày 25 và ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

1.1. Ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thống nhất công nhận phần ngõ đi có diện tích 6,4m² (chiều rộng là 1,22m; chiều dài cạnh giáp nhà của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X là 6,26m, chiều dài cạnh giáp rãnh nước là 7,2m) nằm trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 7760.2001.QĐUB cấp, hồ sơ gốc số 39223.2001 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 14/12/2001 cho vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y và đang có tranh chấp giữa gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X với vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y là ngõ đi chung của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

Khi sử dụng ngõ đi chung nêu trên, gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và gia đình ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y phải có trách nhiệm tôn trọng, đảm bảo quyền sử dụng ngõ đi chung của hai gia đình, không được phép cản trở, gây khó khăn cho nhau trong quá trình sử dụng ngõ đi chung; gia đình nào không tôn trọng, không đảm bảo, cản trở, gây khó khăn cho gia đình bên kia về quyền sử dụng ngõ đi chung phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

1.2. Phần diện tích đất 2,23m² (rộng 25cm, dài 7,9m) nằm giữa phần nhà Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và phần nhà của ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

1.3. Phần diện tích đất 2,23m² (chiều rộng 25cm, chiều dài 7,9m) nằm giữa phần nhà Đinh Xuân T, bà Lê Thị X và phần nhà của ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

1.4. Phần diện tích tấm đan trên cổng do ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng (phần nằm trên tường của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X) có diện tích 9,4cm² (9,4cm x 01cm) thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X.

1.5. Đối với phần diện tích 02m² tai trần (chiều dài là 7,9m và chiều rộng là 0,25m) ở phần tầng 02 ngôi nhà của ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X đang vươn sang phần sân thượng ngôi nhà của vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y thì hai bên thống nhất khi vợ chồng ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y xây dựng nhà mới hoặc ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X xây

16

dựng nhà mới thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y (trường hợp bên nào xây dựng nhà trước thì ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X phải có trách nhiệm phá bỏ phần diện tích tai tường này để bàn giao lại diện tích khoảng không cho gia đình Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y). Nếu một trong hai bên không thực hiện đúng thỏa thuận đã cùng nhau xác lập về việc giải quyết vụ án, bên còn lại có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án đối với nội dung các bên đã thỏa thuận và được Tòa án ghi nhận.

1.6. Ông Đinh Xuân T và bà Lê Thị X, ông Trịnh Ngọc T2 (H1) và bà Trần Thị Kim Y có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo các thỏa thuận nêu trên của hai bên.

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X, ông Trịnh Ngọc T2 (H1), bà Trần Thị Kim Y.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm:

  • Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đinh Xuân T, bà Lê Thị X.
  • Anh Đinh Ngọc H2, chị Đinh Thị Hằng N mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mỗi người đã nộp là 300.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022896 ngày 28/12/2023, số 0022927 ngày 10/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội, xác nhận anh Đinh Ngọc H2, chị Đinh Thị Hằng N đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: P.HCTP-VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2024/DS-PT ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 354/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger