Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 354/2023/DS-PT;

Ngày: 24/8/2023;

V/v "Tranh chấp quyền về lối đi qua".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng;

Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Tòng;

Ông Lê Minh Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Trần Thị Kim Ngân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2023/TLPT-DS ngày 31 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp quyền về lối đi qua”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 22/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2207/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Trần Văn P, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre.
  2. Ông Quảng Trọng P1, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1976; Địa chỉ: khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

2. Bị đơn:

Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1931; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  2. Ông Trần Văn S, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  3. Ông Trần Văn R, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  4. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  5. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1945; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  6. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  7. Chị Nguyễn Cẩm T2, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  8. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  9. Anh Quảng Trọng Trường G, sinh năm 2000; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  10. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1960; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
  11. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
  12. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
  13. Bà Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
  14. Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)

4. Người làm chứng do bị đơn tự triệu tập:

  1. Ông Nguyễn Văn Phúc N1, sinh năm 1967;
  2. Ông Lê Văn S1, sinh năm 1982;
  3. Ông Bùi Thanh H3, sinh năm 1963;

Cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre

- Người kháng cáo: Bị đơn - bà Võ Thị Đ kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung của nguyên đơn ông Trần Văn P, ông Quảng Trọng P1, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn P2 có nội dung:

Ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1 cùng yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thị Đ mở lối đi trên phần đất có chiều rộng là 01m, chiều dài là 16,3m, chiều cao giới hạn 03m (trên lối đi cũ đã sử dụng trước đây) thuộc một phần thửa đất 130, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M do bà Võ Thị Đ và ông Nguyễn Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng ý bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất theo định giá.

Lý do yêu cầu:

Ông Trần Văn P đang quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 687m² thuộc thửa 115, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. Phần đất này do ông Trần Văn C là cha của ông P nhận chuyển nhượng từ ông Quảng Trọng P1 vào năm 2015. Đến ngày 01/10/2021, ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông P quản lý, sử dụng, cất nhà ở trên phần đất này từ năm 2016 cho đến nay (là nhà tình nghĩa cấp cho cha của ông P - con liệt sĩ).

Phần ông Quảng Trọng P1 hiện đang quản lý, sử dụng các thửa đất 121, tờ bản đồ số 6, diện tích 819m² và thửa 105 (ở giữa có thửa 99), tờ bản đồ số 6. Trên thửa 121, 105 là đất vườn dừa. Trên thửa 99 có nhà của ông P1.

Để đi ra đường lộ công cộng thì cả ông P và ông P1 đều phải đi qua thửa đất 130, tờ bản đồ số 6 của gia đình bà Võ Thị Đ. Ngoài lối đi này thì không còn lối đi nào khác để ra đến đường lộ công cộng do xung quanh đều là mương ranh và bị vây bọc bởi các phần đất của các chủ sử dụng khác, hoàn toàn không thể mở lối đi.

Trên phần đất thửa 130 của gia đình bà Đ đã hình thành lối đi từ khoảng năm 2008, do gia đình bà Đ đồng ý cho gia đình ông P1 sử dụng để đi. Đến năm 2013, sau khi ông Quảng T6 Cục là cha của ông P1 chết, gia đình bà Đ vẫn tiếp tục cho ông P1 sử dụng làm lối đi nhưng có làm tờ giao kèo đến năm 2020 thì trả đất. Lối đi có chiều ngang 01m. Các nguyên đơn cũng đã góp tiền xây 02 cầu kiên cố bắt qua rạch công cộng và mương ranh nối 02 đầu đất của phần đất bà Đ để đi ra đường lộ công cộng (là đường bê tông của xóm). Khi thực hiện, bà Đ không có ý kiến gì.

Đến tháng 4/2020, bà Đ tự ý rào đường, không cho ông P1 và ông P đi. Ủy ban nhân dân xã B có giải quyết, bà Đ có đề nghị trả 70.000.000 đồng, ông P và ông P1 chỉ đồng ý trả 30.000.000 đồng, không thỏa thuận được nên phát sinh tranh chấp.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản: Đồng ý.

Bị đơn bà Võ Thị Đ (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T3) trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa:

Gia đình bà không đồng ý mở lối đi theo yêu cầu của ông P và ông P1. Phần đất của gia đình bà thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 6, diện tích 3644,8m², tọa lạc ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà và ông Nguyễn Văn N vào ngày 01/7/2014. Vào khoảng năm 2008 - 2009, cha của ông P1 là ông Quảng Trọng C1 có xin gia đình bà cho đi nhờ qua thửa đất này, bà đồng ý. Sau khi ông C1 chết thì bà có cho ông P1 tiếp tục đi nhờ. Ông P1 có bắc cầu vào năm 2013 để đi, lúc đó gia đình bà có biết và đồng ý cho đi nhờ. Tuy nhiên, việc cho đi nhờ này chỉ đi đến năm 2020 thì phải trả đất do hai bên có làm “Tờ giao kèo”. Đến khoảng tháng 4/2020, do vợ chồng ông P1 có lời lẽ xúc phạm bà nên bà rào cầu, không cho đi nữa. Tòa án có áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc bà tháo dỡ, quá trình thi hành án động viên bà đã tự nguyện tháo dỡ toàn bộ. Khi Ủy ban nhân dân xã B, bà có đề nghị ông P1 và ông P trả cho bà 70.000.000 đồng nhưng ông P1 và ông P không đồng ý.

Đối với ông P, bà không có thỏa thuận gì. Ông P nhận chuyển nhượng đất của ông P1 khoảng năm 2015. Trước khi ông P nhận chuyển nhượng đất từ ông P1, bà đã thông báo cho ông P biết việc chỉ cho ông P1 đi nhờ đến năm 2020 nhưng ông P không có ý kiến.

Bà không cho ông P và ông P1 tiếp tục đi trên đất của bà vì các bên đã mâu thuẫn trầm trọng, đã xảy ra xô xát nhau, Công an xã B đang giải quyết. Phần đất của bà dùng để cho con cất nhà nên không thể cho mở lối đi. Mặc dù ông P và ông P1 hiện tại không có lối đi nào khác nhưng phải tự tạo lối đi. Vì trước đây, gia đình ông P1 cũng đã hỏi đi trên đất của ông Mười L và ông Phúc N1, sau đó mâu thuẫn với những người này, họ không cho đi nữa nên gia đình bà mới cho đi nhờ.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thanh T5 trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn T4, chị Vũ Thị H2 trình bày trong quá trình tố tụng: Thống nhất lời trình bày và ý kiến của bà Võ Thị Đ, không yêu cầu bổ sung.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị H, ông Trần Văn S, ông Trần Văn R1, bà Trần Thị H1, bà Nguyễn Thị T, bà Trần Thị T1, chị Nguyễn Cẩm T2, bà Nguyễn Thị Đ1, anh Quảng Trọng Trường G trình bày trong quá trình tố tụng: Thống nhất lời trình bày của ông Quảng Trọng P1 và ông Trần Văn P, không yêu cầu bổ sung.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2020/DSST, ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Văn P và Quảng Trọng P. Buộc bà Võ Thị Đ và các thành viên trong hộ mở lối đi có diện tích 16.3m², chiều cao giới hạn 03m tính từ mặt đất theo phương thẳng đứng (ký hiệu là 130a) thuộc một phần thửa đất 130, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M do bà Võ Thị Đ và ông Nguyễn Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Buộc ông Quảng Trọng P1 và ông Trần Văn P liên đới đền bù cho bà Đ, ông N giá trị quyền sử dụng đất số tiền là 2.445.000 đồng. Nghĩa vụ liên đới theo phần là 1.222.500 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phần án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo bản án.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 35/2021DSST, ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 76/2020/DSST, ngày 05/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS - ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã tuyên:

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 245, 246, 247, 248 và 254 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1.

Cụ thể tuyên:

  1. Buộc bà Võ Thị Đ và các thành viên trong hộ (Gồm ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Thanh T5, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, bà Vũ Thị H2) mở lối đi cho ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1 có diện tích 16,3m², chiều cao giới hạn 03m tính từ mặt đất theo phương thẳng đứng (ký hiệu là 130a) thuộc một phần thửa đất 130, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M do bà Võ Thị Đ và ông Nguyễn Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hiện trạng lối đi: Trên lối đi là đất trống, nối 02 đầu lối đi là 02 cầu bê tông.

  1. Buộc ông Quảng Trọng P1 và ông Trần Văn P liên đới đền bù cho bà Võ Thị Đ, ông Nguyễn Văn N giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất mở lối đi là số tiền là 2.445.000 đồng. Nghĩa vụ liên đới theo phần là 1.222.500 đồng.
  2. Ông Trần Văn P và Q Phết được quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất có lối đi (phần đất được chấp nhận mở lối đi như đã nêu trên). Đồng thời phải tuân thủ các điều kiện để đảm bảo quá trình sử dụng đất của các bên mà pháp luật quy định. Tuyên bố hạn chế quyền sử dụng đất có lối đi đối với chủ sử dụng đất có lối đi mà các đương sự được sử dụng.
  3. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2020/QĐ-BPKCTT, ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.

Các bên không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét, giải quyết.

(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo – là một phần của bản án, không tách rời bản án).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/4/2023, bị đơn – bà Võ Thị Đ có đơn kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Võ Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do nguyên đơn còn có lối đi khác, việc mở lối đi qua đất của bà lâu dài sẽ gây thiệt hại cho gia đình bà.

Phía nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo của bị đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1]. Về tố tụng: Bị đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    1. [2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp:

      Ông Trần Văn P đang quản lý, sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 687m² thuộc thửa 115, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. Trên đất có nhà ở cất từ năm 2016 (là nhà tình nghĩa).

      Ông Quảng Trọng P1 đang quản lý, sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất gồm: Thửa 121, tờ bản đồ số 6, diện tích 819,4m² và thửa 105 (ở giữa có thửa 99), tờ bản đồ số 6, diện tích 6275,9m². Trên thửa 121, 105 là đất vườn dừa, trên thửa 99 có nhà của ông P1.

      Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xác định: Phần đất của ông P, ông P1 bị vây bọc bởi các phần đất của các hộ khác, không có lối đi ra đường lộ công cộng. Cụ thể: Từ đường lộ bê tông của xóm đi vào, hiện trạng phần đất nguyên đơn đang yêu cầu mở lối đi không thay đổi so với những lần giải quyết trước đây. Trên phần đất đang yêu cầu mở lối đi là đất trống, phần còn lại của thửa 130 là đất trồng dừa. Nối hai đầu đất qua hai thửa đất khác là 02 cầu bê tông qua mương ranh và qua rạch công cộng. Bên kia rạch là phần đất thửa 121 của ông P1 đang trồng dừa. Kế tiếp là 02 thửa đất vườn dừa của 02 chị ông P1 là thừa 122, 116 cùng tờ bản đồ số 6, trên đầu đất có lối mòn. Đối với hai người chị của ông P1 đều đồng ý cho ông P1 và ông P đi, không thu tiền đất, không tranh chấp với nguyên đơn, bị đơn. Tiếp đến là phần đất cất nhà, xung quanh trồng cây của ông P, trên đầu đất trước cửa nhà có lối mòn (Thửa 115). Phía trong là đất của ông P1 trong đó có cất nhà (Thửa 99), xung quanh trồng dừa (Thửa 105). Xung quanh đất của ông P và đất của ông P1 không có sẵn lối đi qua các thửa đất của các hộ tứ cận do ranh đều là mương, phần lớn dưới mương trồng lá dừa nước, không có cầu bắt qua, đất giáp ranh phần lớn là đất vườn dừa, cách rất xa đường đi công cộng. Như vậy, phần đất mà các nguyên đơn yêu cầu mở lối đi nằm trên thửa đất 130 của bà Đ.

    2. [2.2] Bà Đ cho rằng trước đây gia đình ông P1 đi trên phần đất của ông Nguyễn Văn P3 (con trai của ông 10 L1) và Nguyễn Văn N1 (tên thường gọi là Phúc N1), Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh đối với các lối đi trên đều thể hiện: Không có đường đi từ đất của các nguyên đơn qua. Ranh giữa các thửa đất là mương, dưới mương ranh trồng lá dừa nước nên hiện nay không có lối đi qua các phần đất này.
    3. [2.3] Căn cứ văn bản có tựa "Tờ giao kèo” đề ngày 28/3/2013 do bà Đ cung cấp, thể hiện gia đình bà Đ có cho gia đình ông P1 đi trên phần đất của bà và có thỏa thuận về mặt thời gian. Quá trình cho đi nhờ, phía ông P1 đã thực hiện bắt 02 cầu bê tông để đi, gia đình bà Đ biết và không có ý kiến gì. Đồng thời, phần đất yêu cầu mở lối đi qua thời gian cũng đã hình thành lối mòn, trên đất cũng không có cây trồng, vật kiến trúc bị ảnh hưởng. Tuy việc yêu cầu mở lối đi của các nguyên đơn chia đất của gia đình bà Đ ra làm 02 phần, nhưng không ảnh hưởng đến quá trình canh tác đất của gia đình bà Đ vì đất này là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm (chủ yếu là trồng dừa). Bà Đ cho rằng mở lối đi ảnh hưởng đến việc cho con cất nhà trên đất là không phù hợp với mục đích sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận. Bên cạnh đó, lối đi mà nguyên đơn đã bắc cầu và đang yêu cầu gia đình bà Đ mở thì đây cũng là lối đi vào vườn của bà Đ. Đồng thời, phần nhỏ đất còn lại của thửa đất số 130 nằm ở phía đông bắc của lối đi mà các nguyên đơn yêu cầu, tiếp giáp rạch là phần đất lá nên việc mở lối theo yêu cầu của các nguyên đơn cũng không ảnh hưởng đến việc sử dụng diện tích đất ở phía tây đường đi.
    4. [2.4] Quá trình giải quyết vụ án trước đây, bà Đ đề nghị cho các nguyên đơn đi cặp rạch nhưng quá trình giải quyết lại vụ án, bà Đ không đồng ý thực hiện làm đơn yêu cầu đo đạc, định giá theo thông báo của Tòa án nên không có căn cứ xem xét. Mặc khác, việc mở lối đi cặp rạch là khó thực hiện được do con rạch uốn quanh đất theo đường cong, dưới mương là lá dừa nước, đất thấp nên sẽ tốn nhiều chi phí san lấp, cải tạo, bắc lại cầu, không thuận tiện và hợp lý.
    5. [2.5] Như vậy, lối đi mà nguyên đơn yêu cầu mở là lối đi duy nhất hiện nay để ra đường lộ công cộng, đã được bắc 02 cầu bê tông được xem là lối đi thuận tiện và hợp lý nhất nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, buộc bà Đ và các thành viên trong hộ mở lối đi là phù hợp. Đối với chiều cao của lối đi, để đảm bảo quá trình sử dụng đất sau này của bà Đ, cần hạn chế chiều cao của lối đi là 03m tính từ mặt đường đo lên, chiều cao này cũng đảm bảo cho nguyên đơn sử dụng ổn định lối đi.

      Lối đi này là lối đi chung của ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1. Quá trình sử dụng lối đi phải tuân thủ các điều kiện để đảm bảo quá trình sử dụng đất của các bên mà pháp luật quy định. Tuyên bố hạn chế quyền sử dụng đất có lối đi đối với chủ sử dụng đất có lối đi mà các đương sự được sử dụng.

  3. [3] Về việc xem xét hoàn trả giá trị, Hội đồng xét xử xét thấy: Toà án sơ thẩm đã xem xét buộc các nguyên đơn hoàn trả cho bị đơn giá trị phần đất mà các nguyên đơn yêu cầu mở lối đi với số tiền là 2.445.000 đồng là hợp lý. Tuy bị đơn cho rằng giá bồi thường thấp nhưng không có yêu cầu định giá lại nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét.
  4. [4] Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 01/2020/QĐ-BPKCTT ngày 08/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Buộc thực hiện hành vi nhất định” được xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 138 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  5. [5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  6. [6]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận, giữ y bản án sơ thẩm.
  7. [7]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng do bà Võ Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Võ Thị Đ.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 17/2023/DS-ST ngày 22/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Áp dụng khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 245, 246, 247, 248 và 254 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1.

Cụ thể tuyên:

  1. Buộc bà Võ Thị Đ và các thành viên trong hộ (Gồm ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Thanh T5, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, bà Vũ Thị H2) mở lối đi cho ông Trần Văn P và ông Quảng Trọng P1 có diện tích 16,3m², chiều cao giới hạn 03m tính từ mặt đất theo phương thẳng đứng (ký hiệu là 130a) thuộc một phần thửa đất 130, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp A, xã B, huyện M do bà Võ Thị Đ và ông Nguyễn Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hiện trạng lối đi: Trên lối đi là đất trống, nối 02 đầu lối đi là 02 cầu bê tông.

  1. Buộc ông Quảng Trọng P1 và ông Trần Văn P liên đới đền bù cho bà Võ Thị Đ, ông Nguyễn Văn N giá trị quyền sử dụng đất đối với phần đất mở lối đi là số tiền là 2.445.000 đồng. Nghĩa vụ liên đới theo phần là 1.222.500 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).
  2. Ông Trần Văn P và Q Phết được quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất có lối đi (phần đất được chấp nhận mở lối đi như đã nêu trên). Đồng thời phải tuân thủ các điều kiện để đảm bảo quá trình sử dụng đất của các bên mà pháp luật quy định. Tuyên bố hạn chế quyền sử dụng đất có lối đi đối với chủ sử dụng đất có lối đi mà các đương sự được sử dụng.
  3. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật thì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2020/QĐ-BPKCTT, ngày 08/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam trong quá trình giải quyết vụ án bị hủy bỏ.

Các bên không còn yêu cầu nào khác nên không xem xét, giải quyết.

(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo – là một phần của bản án, không tách rời bản án).

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Bà Võ Thị Đ, ông Nguyễn Văn N được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
  • - Bà Nguyễn Thị Thanh T5, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn T4, bà Vũ Thị H2 liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (phần buộc phải mở lối đi qua): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
  • - Ông Trần Văn P phải nộp án phí (phần hoàn trả giá trị đất): 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông P4 đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000958, ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.
  • - Ông Quảng Trọng P1 phải nộp án phí (phần hoàn trả giá trị đất): 300.000 đồng(Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông P1 đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000959, ngày 06/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.
  • - Trả lại cho ông Trần Văn P số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001069, ngày 07/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.
  • - Trả lại cho ông Quảng T6 Phết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001070, ngày 07/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.

[6]. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản, thu thập quy trình cấp giấy chứng nhận: 2.223.000 đồng, ông Trần Văn P đã nộp. Bà Võ Thị Đ đã nộp: 100.000 đồng. Buộc bà Võ Thị Đ chịu toàn bộ. Bà Võ Thị Đ có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Văn P số tiền là 2.223.000 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi ba nghìn đồng).

[7]. Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Võ Thị Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải bàu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Mỏ Cày Nam;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thế Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 354/2023/DS-PT ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền về lối đi qua

  • Số bản án: 354/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền về lối đi qua
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lối đi mà nguyên đơn yêu cầu mở là lối đi duy nhất hiện nay để ra đường lộ công cộng, đã được bắc 02 cầu bê tông được xem là lối đi thuận tiện và hợp lý nhất nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, buộc bà Đ và các thành viên trong hộ mở lối đi là phù hợp. Đối với chiều cao của lối đi, để đảm bảo quá trình sử dụng đất sau này của bà Đ, cần hạn chế chiều cao của lối đi là 03m tính từ mặt đường đo lên, chiều cao này cũng đảm bảo cho nguyên đơn sử dụng ổn định lối đi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger