Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 353/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 29/8/2024.

Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Kim Lan

2. Ông Kiều Xuân Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Đoàn Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 281/2024/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST– HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Kim N, sinh năm 1966; Nơi thường trú: Số A N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.
  2. Bị đơn: Anh Kiều Ngọc B, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

Có mặt: bà N

Vắng mặt: ông Ba

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện ngày 17/7/2024, những lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Kim N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Kiều Ngọc B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/9/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M. Sau khi kết vợ chồng bà về chung sống tại gia đình nhà ông B ở xã T, huyện M. Quá trình sinh sống vợ chồng bà nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do mâu thuẫn về kinh tế, và sức khỏe của bà đã yếu, đôi khi ông B còn xúc phạm bà nên ngày 06/7/2024, bà đã về sinh sống cùng con gái bà tại phố N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội. Đến ngày 15/7/2024, bà cùng con gái đã đến nhà ông B để xin phép dọn đồ đạc, không sinh sống cùng ông B nữa. Đồng thời cùng ngày, bà cũng đề nghị ông B là hai vợ chồng thuận tình ly hôn, ban đầu ông B đồng ý nhưng khi đến Tòa án ông B thay đổi ý kiến không đồng ý ly hôn vì ông B cho rằng tình cảm vợ chồng có thể hàn gắn được. Nay bà làm đơn khởi kiện xin ly hôn ông B, bà xác định vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn vợ chồng âm ỉ đã lâu và đã trầm trọng nên bà xin được ly hôn ông B để ổn định cuộc sống riêng và đi chữa bệnh.

Về con chung: vợ chồng bà không có con chung.

Về tài sản chung: vợ chồng bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo Bản tự khai ngày 18/7/2024, những lời khai tại Tòa án, bị đơn là ông Kiều Ngọc B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: ông bà bà N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/9/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M. Sau khi kết vợ chồng bà về chung sống tại gia đình nhà ông ở xã T, huyện M. Quá trình chung sống vợ chồng ông hòa thuận vui vẻ thì ngày 06/7/2024, con gái của bà N từ nước ngoài về thăm bà N và đón bà N về ở cùng với con gái bà N tại phường V, quận L. Đến Ngày 15/7/2024, bà N cùng con gái bà N đến nhà ông dọn đồ đạc của bà N và làm đơn yêu cầu thuận tình ly hôn với lý do đi chữa mắt, bảo ông ký vào Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và ông có ký vào đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Nhưng khi đến Tòa ông thấy vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì, tình cảm vợ chồng vẫn còn, có thể hòa giải đoàn tụ được nên ông không đồng ý ly hôn.

Về con chung: vợ chồng ông không có con chung.

Về tài sản chung: vợ chồng ông không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

N giữ nguyên quan điểm như đã trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của bà.

Ông B không có mặt tại phiện tòa nên không có ý kiến

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm tố tụng.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị Kim N với ông Kiều Ngọc B. Bà Phạm Thị Kim N được ly hôn ông Kiều Ngọc B.

Về con chung: không có nên không đặt ra để giải quyết.

Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là ông Kiều Ngọc B có nơi thường trú tại Thôn N, xã T, huyện M nên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình của bà Phạm Thị Kim N với ông Kiều Ngọc B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Phạm Thị Kim N có mặt trong quá trình Tòa án xét xử và ông Kiều Ngọc B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông B theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giành quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Kim N và ông Kiều Ngọc B: ông, bà tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 26/9/2023 (đăng ký kết hôn số 42/2023) nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của bà N về việc xin ly hôn ông B Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa bà N và ông B có phát sinh mâu thuẫn, theo bà N trình bày là do mâu thuẫn về kinh tế, sức khỏe nên bà bỏ về sinh sống cùng con gái của bà (con riêng của bà N) và hai vợ chồng bà đã sống ly thân từ ngày 06/7/2024 cho đến nay. Ông B trình bày vợ chồng ông không có mâu thuẫn gì, tình cảm vợ chồng vẫn còn, có thể hòa giải đoàn tụ được nên ông không đồng ý ly hôn bà N. Ngày 06/8/20024, Tòa án đã triệu tập ông B đến Tòa để hòa giải nhưng ông B không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hành phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chắc sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Giữa bà N, ông B đã sống ly thân sống ly thân, bà N không còn tình cảm, không muốn hàn gắn, không muốn sống chung với ông B nên mối quan hệ vợ chồng giữa bà N và ông Ba k đảm bảo theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Vì vậy, ông, bà không thể xây dựng được gia đình hạnh phuc. Đồng thời bà N xác định trong thời gian ly thân giữa bà và ông Ba k quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Từ đó, Hội đồng xét xử thấy mục đích hôn nhân giữa bà N và ông Ba k đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Kim N với ông Kiều Ngọc B là phù hợp.

[3] Về con chung: vợ chồng ông, bà không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Bà N, ông B xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Phạm Thị Kim N xin chịu cả là phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Kim N xin ly hôn ông Kiều Ngọc B. Bà Phạm Thị Kim N được ly hôn ông Kiều Ngọc B.

2. Về con chung: không có

3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Tòa án không xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Phạm Thị Kim N phải chịu cả để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 8825 ngày 17/7/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, bà Phạm Thị Kim N có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Kiều Ngọc B có quyền có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Mê Linh;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - THA dân sự huyện Mê Linh;
  • - UBND xã Tam Đồng (GCN kết hôn số
  • 42 ngày 26/9/2023 );
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 353/2024/HNGĐ - ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 353/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị Kim N xin ly hôn ông Kiều Ngọc N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger