Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 353/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Công Danh.
  2. Ông Phan Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2235/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1973.

Địa chỉ: 3, tổ I, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Bà Trương Thị P, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số B, tổ A, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Luật sư Lê Văn BCông ty L – Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số B đường N, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn T, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai.

(Ông T, bà P, luật sư B có mặt; ông C có đơn xin giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 20/2/2006. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà P.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông T, bà P có 03 con chung là cháu Hà Kiều A, sinh ngày 27/01/2007, cháu Hà Thiên H, sinh ngày 31/12/2009 và cháu Hà Thiên N, sinh ngày 17/10/2014. Ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Kiều A, cháu Thiên H và cháu Thiên N. Tạm thời ông T không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Trương Thị Phương trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện tìm hiểu, kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2006 ngày 20 tháng 02 năm 2006. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, vợ chồng hay cãi nhau. Vợ chồng nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đồng ý ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T có 03 con chung là cháu Hà Kiều A, sinh ngày 27/01/2007, cháu Hà Thiên H sinh ngày 31/12/2009 và cháu Hà Thiên N sinh ngày 17/10/2014. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung. Tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án do tinh thần không ổn định nên bà có đơn yêu cầu chia tài sản sau khi Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nay tại phiên tòa bà xác định tài sản tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Tại phiên tòa, bà xác định không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân C trình bày: Ông C cho bà Trương Thị P vay tiền từ năm 2014, trong thời gian từ năm 2014 đến khi giữa ông C và bà P chốt số nợ (cụ thể từng lần cho bà P vay ông C không nhớ), tổng số tiền bà P còn nợ ông là 2.090.000.000 đồng. Khi vay chỉ có bà P đứng ra vay tiền và ký vào giấy nhận nợ. Khi vay bà P nói để mua đất chung trong gia đình nên ông C xác định đây là khoản nợ ông C cho bà P và ông T vay. Trong quá trình vay cho đến nay bà P và ông T chưa trả cho ông C khoản tiền nào. Khi cho vay bà P có viết giấy nhận nợ, thể hiện số tiền còn nợ của ông C, giấy nhận nợ này ông đã giao cho luật sư của ông để giao cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa. Ông yêu cầu ông T, bà P trả cho ông tiền nợ gốc và tiền lãi kể từ ngày 27/3/2014 với mức lãi suất 1.5%/tháng cho đến khi ông T, bà P trả hết nợ. Ông sẽ làm đơn yêu cầu độc lập trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 13/6/2024. Tại phiên tòa ông có đơn xin giải quyết vắng mặt do bận công việc, đồng thời xác định không yêu cầu giải quyết nợ chung trong vụ án này.

* Tại phiên tòa Luật sư Lê Văn B là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà P trình bày: Yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông T, bà P được ly hôn. Về con chung vì các con chung là cháu gái nên đề nghị Tòa án giao cho bà P trực tiếp chăm sóc. Trường hợp không xem xét giao được cả ba cháu thì đề nghị Tòa án giao cho bà P được trực tiếp chăm sóc một hoặc hai cháu vì nguyện vọng được nuôi con của bà P là chính đáng. Về cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Hà Văn T. Cho ông T ly hôn với bà P.

Về con chung: Tiếp tục giao các cháu là cháu Hà Kiều A, sinh ngày 27/01/2007, cháu Hà Thiên H sinh ngày 31/12/2009 và cháu Hà Thiên N sinh ngày 17/10/2014 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời bà P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tại phiên tòa, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết, dành quyền khởi kiện cho ông T, bà P trong vụ án khác.

Về nợ chung: Ông C không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết, dành quyền khởi kiện cho ông C trong vụ án khác.

Về án phí: Ông T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Hà Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trương Thị P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định ông T là nguyên đơn, bà P là bị đơn, ông Nguyễn Xuân C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Bà P có nơi cư trú tại địa chỉ số B, tổ A, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Tại phiên tòa, ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà P kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 34/2006 ngày 20 tháng 02 năm 2006 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Theo trình bày của ông T thì sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, nhưng sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn đoàn tụ, ông T xin được ly hôn với bà P.

Theo bà P trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà P và ông T không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn và vợ chồng đã ly thân từ ngày 04/4/2019 đến nay. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T, bà P. Tại biên bản xác minh ngày 15 tháng 01 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do ông T, bà P không trình báo với địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải, đoàn tụ nhưng ông T vẫn cương quyết ly hôn và bà P đồng ý ly hôn với ông T. Như vậy, mâu thuẫn trong tình cảm giữa ông T, bà P là có thật, vợ chồng không còn chung sống, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho ông T được ly hôn với bà P.

[2.2] Về con chung:

Quá trình chung sống, ông T, bà P có 03 con chung là cháu Hà Kiều A, sinh ngày 27/01/2007, cháu Hà Thiên H sinh ngày 31/12/2009 và cháu Hà Thiên N sinh ngày 17/10/2014. Cả ông T, bà P đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là nguyện vọng chính đáng của các bên đương sự. Tuy nhiên, thời gian qua các con chung được ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T nuôi dạy các cháu phát triển tốt. Các cháu đều đã trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến của các cháu thì các cháu đều có nguyện vọng được sống chung với ông T, được ông T trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Do đó, tôn trọng nguyện vọng của các cháu, đảm bảo cuộc sống của các cháu được ổn định nên chấp nhận yêu cầu của ông T, tiếp tục giao các cháu là cháu Kiều A, cháu Thiên H và cháu Thiên N cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Do ông T không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm thời bà P không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở bà P thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Ông T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 23/11/2023, bà P trình bày tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có. Sau khi Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bà P mới có đơn phản tố yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung. Theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Nhưng bà P lại nộp đơn yêu cầu chia tài sản kèm theo tài liệu chứng cứ cho Toà án sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp nhận, công khai chứng cứ và hòa giải. Mặc khác, tại phiên tòa bà P trình bày tài sản tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà P và ông T. Bà P và ông T có quyền khởi kiện trong vụ án khác nếu có yêu cầu.

[2.4] Về nợ chung: Ông T trình bày không có, bà P trình bày có nợ của ông Nguyễn Xuân C số tiền 2.090.000.000 đồng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2024, ông C có ý kiến sẽ làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T, bà P trả cho ông tiền nợ gốc 2.090.000.000 đồng trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày 13/6/2024. Tuy nhiên, ông C không làm đơn yêu cầu độc lập gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để được xem xét theo quy định. Tại phiên tòa ông C có đơn xin giải quyết vắng mặt do bận công việc và xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nợ chung trong vụ án này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu giải quyết nợ chung của ông C. Ông C có quyền giải quyết trong vụ án khác khi có yêu cầu.

[3] Về án phí: Ông Hà Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Lời trình bày của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà P có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận một phần. Đối với đề nghị giao con chung cho bà P trực tiếp chăm sóc không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • - Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hà Văn T, cho ông Hà Văn T được ly hôn với bà Trương Thị P.

2. Về con chung: Giao cháu Hà Kiều A, sinh ngày 27/01/2007, cháu Hà Thiên H, sinh ngày 31/12/2009 và cháu Hà Thiên N, sinh ngày 17/10/2014 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời bà P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

P có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở bà P thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Hà Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai số 0009196 ngày 19/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà (Ông T đã nộp xong).

6. Ông Hà Văn T, bà Trương Thị P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Xuân C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND TP.Biên Hòa.
  • - UBND phường Tân Hòa.
  • - Chi cục THADS TP.Biên Hoà.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 353/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 353/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Nga ly hôn với Nguyễn Mộng Thư
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger