|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 353/2023/HS-ST Ngày: 15-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Hiền
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Đức Việt: Bí thư thành đoàn Vinh
Bà Phan Kim Hoa: giáo viên nghỉ hưu
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Bình - Thư ký TAND TP . Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 321/2023/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 427/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 10/8/2004; Nơi ĐKNKTT: khối A, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Hồ Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/9/2017, bị Công an huyện H xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 30/11/2017, bị Công an huyện H xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 08/4/2018, bị Công an huyện H xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 31/5/2021, bị Toà án nhân dân quận Tây Hồ, TP Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (bản án số 75/2021/HSST) . Chấp hành xong án phạt tù ngày 24/02/2022.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Đức H; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 20/01/2004; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: K, phường T, TP V, Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T1 và bà: Lê Thị Tú O; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 15/4/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Vinh xử phạt 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 102/2021/HS-ST).
- Ngày 13/8/2021, bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt với bản án số Bản án số 102/2021/HS-ST buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 22 tháng tù (bản án số 264/2021/HS-ST) . Chấp hành xong ngày 29/7/2022.
- Ngày 14/4/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Vinh xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số 87/2023/HS-ST). Bị cáo kháng cáo. Ngày 26/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Đức H. Hiện chưa chấp hành bản án.
Bị cáo đầu thú bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.
3. Họ và tên: Hoàng Nghĩa A; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 25/4/2005; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Khối P, phường V, TP V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Nghĩa L2 và bà Võ Thị T2; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không, tiền sự: Ngày 17/5/2023, Công an T13 xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 3.250.000đ (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (đã thi hành).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt tại phiên toà.
4. Họ và tên: Bùi Trần Nam P; Tên gọi khác: không; Sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm B, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình T3 và bà Trần Thị T4; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 27/4/2023 bị Công an T13 xử phạt vi phạm hành hính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” phạt tiền 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Đã thi hành.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
5. Họ và tên: Nguyễn Minh H1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 17/11/2006 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H2 và bà Lê Thị C; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 24/08/2023 bị TAND thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; - Ngày 08/9/2023 bị TAND thành phố Vinh xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo không kháng cáo và chưa chấp hành hai bản án trên. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Nguyễn Mạnh T5; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 19/8/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Khối Dũng Q, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh T6 và bà Hoàng Thị L3; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 22/7/2022, bị Công an T13 xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi “Bán tài sản của người khác mà không biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có” (theo QĐ số 241)
- Ngày 21/10/2022, bị Công an T13 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác” theo QĐ số 335; Đã chấp hành.
- Ngày 05/10/2023 bị TAND thành phố Vinh xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo không kháng cáo. Hiện chưa chấp hành bản án.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
7. Họ và tên: Phạm Huy S; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 13/9/2005; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Huy H3 và bà Mai Thanh H4; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: - Ngày 24/8/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, Nghệ An xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. (tại bản án số 16/2023/HS-ST); Bị cáo không kháng cáo. Chưa chấp hành bản án.
Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; Có mặt tại phiên toà.
8. Họ và tên: Nguyễn Bảo L4; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 10/12/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng B và bà Bùi Thị H5; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/7/2023, bị Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo không kháng cáo. Chưa chấp hành bản án; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt tại phiên toà.
9. Họ và tên: Nguyễn Hữu H6; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 19/9/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Khối H, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu H7 và bà Nguyễn Thị Việt H8; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/02/2020 bị Công an T13, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính Cảnh cáo về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hải cho sức khỏe của người khác”; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt tại phiên toà.
10. Họ và tên: Hà Đức N; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 16/5/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: K, phường C, TP V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đức T7 và bà Lê Thị H9; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/11/2022 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo QĐ số 152 về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”. Đã chấp hành.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt tại phiên toà.
11. Họ và tên: Lê Quang Quyền L5; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 20/6/2005; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: K, phường Đ, TP V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang M và bà Bành Thị H10; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 03/7/2023 đến ngày 12/7/2023, Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
12. Họ và tên: Đặng Văn T8; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 11/01/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm A, xã N, Thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ và bà Nguyễn Thị L6; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 10/7/2023 đến ngày 19/7/2023, Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
13. Họ và tên: Phan Văn P1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 23/11/2006; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Xóm M, xã H, TP V, Nghệ An; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T9 và bà Vũ Thị Lan A1; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2023 đến ngày 07/7/2023, Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh H1: Ông Lê Viết C1, sinh năm 1954; địa chỉ: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh T5: Bà Hoàng Thị L3, sinh năm 1984; địa chỉ: khối D, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Huy S: Bà Mai Thanh H4, sinh năm 1978; địa chỉ: xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Bảo L4: Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1975; địa chỉ: xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Hữu H6: Ông Nguyễn Hữu H7, sinh năm 1975, địa chỉ: số H, đường H, khối I, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Đức N: Bà Lê Thị H9, sinh năm 1968; địa chỉ: khối E, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Văn T8: Bà Nguyễn Thị L6, sinh năm 1977; địa chỉ: xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phan Văn P1: Bà Vũ Thị Lan A1, sinh năm 1980; địa chỉ: xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo H1, T5, S, L4, H6, N, T8, P1: Bà Nguyễn Thị Tuyết M1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Lê Hồng N2, sinh ngày 01/3/2006. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh N2: Ông Lê Thế V, sinh năm 1971. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: khối 4, phường Quán Bàu, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
-
Anh Trần Quang L7, sinh ngày 13/02/2008. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh L7: Bà Hoàng Thị T10, sinh năm 1976. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: khối 4, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
-
Anh Phạm Tiến D, sinh ngày 01/10/2007. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh D: Ông Phạm Hữu H11, sinh năm 1985. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: khối 13, phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
-
Anh Trần Văn Duy Đ1, sinh ngày 10/8/2007. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh Đ1: Bà Trần Thị L8, sinh năm 1978
Cùng địa chỉ: khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An
-
Anh Võ Đức H12, sinh ngày 13/8/2008. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh H12: Bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1988
Cùng địa chỉ: khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An
-
Anh Phan Duy A2, sinh ngày 24/11/2007. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của anh A2: Bà Võ Thị Thu H13, sinh năm 1986. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: xóm 6, xã Hưng Chính, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
-
Anh Trần Quang A3, sinh ngày 30/01/2004. Vắng mặt
Địa chỉ: khối D, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An
-
Anh Nguyễn Công P2, sinh ngày 19/4/2005. Vắng mặt
Địa chỉ: khối 10, phường Hồng Sơn, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
-
Anh Nguyễn Đình K, sinh ngày 26/7/2002. Vắng mặt
Địa chỉ: khối A, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An
-
Chị Hoàng Thị Cẩm T11, sinh ngày 9/7/2003. Vắng mặt
Địa chỉ: khối A, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An
-
Chị Hoàng Thị T10, sinh năm 1975. Vắng mặt
Địa chỉ: khối D, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Ban, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Đại diện Ban 1, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Đại diện Ban chấp hành Đoàn phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Đại diện Ban chấp hành Đoàn phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Đại diện Ban chấp hành Đoàn phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Đại diện Ban 2, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt
- Đại diện Ban chấp hành Đoàn xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 02/7/2023 Phạm Tiến D (sinh ngày 1/10/2007, TT: K, phường C, Thành phố V ngồi uống nước cùng Hoàng Nghĩa A; Nguyễn Mạnh T5; Nguyễn Hữu H6; Trần Văn Duy Đ1 (sinh ngày 10/8/2007, trú tại khối P, phường T, TP V); Võ Đức H12 (sinh ngày 13/8/2007, trú tại khối A, phường B, TP V); Phan Văn P1; Hà Đức N; Nguyễn Đức H ở quán cà phê “Nhau” tại khu vực ngã tư đường K giao nhau với đường N thuộc phường H, TP V thì Phạm Tiến D thấy Lê Hồng N2 (SN:2006,TT: K, phường Q, Thành phố V) có mâu thuẫn với D trước đó đi ngang qua quán, nên Phạm Tiến D cùng Hoàng Nghĩa A đuổi theo Lê Hồng N2 để đánh, số còn lại ngồi tiếp tục uống nước tại quán. Khi đuổi kịp xe Lê Hồng N2 thì Phạm Tiến D cùng Hoàng Nghĩa A dùng tay không đấm vào mặt Lê Hồng N2 nhiều cái rồi D và Nghĩa A quay lại quán. Sau khi bị đánh, Lê Hồng N2 đi đến nhà anh Trần Quang L7 (sinh năm 2008, trú tại số E đường H, thuộc khối D, phường C, TP V). Tại đây, Lê Hồng N2 gặp Trần Quang L7; Trần Quang A3 (sinh năm 2004, trú tại khối D, phường C, TP V); Nguyễn Công P2 (sinh năm 2005, trú tại khối A, phường H, TP V); Nguyễn Đình K (sinh năm 2002, trú tại khối A, phường H, TP V); Hoàng Thị Cẩm T11 (sinh năm 2003, trú tại khối A, phường Đ, TP V) Hoàng Thị T10 (sinh năm 1976, trú tại khối D, phường C, TP V) rồi kể về sự việc nhóm Phạm Tiến D đuổi theo đánh Lê Hồng N2. Đồng thời Nhất có nhờ Trần Quang A3 điện thoại cho nhóm Phạm Tiến D để giảng hòa nhưng không thành công. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nhóm Phạm Tiến D đi đến quán nước ông T12 cạnh bến xe V cũ trên đường L, phường L, thành phố V. Tại đây, nhóm Phạm Tiến D gặp Phạm Huy S, Nguyễn Bảo L4; Nguyễn Minh H1; Đặng Văn T8 đang ngồi uống nước nên nhóm Phạm Tiến D vào ngồi cùng uống nước nói chuyện.
Đến khoảng 23 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, Phạm Tiến D gọi điện cho Lê Hồng N2 để thách thức hẹn đến số E, đường H thuộc khối D, phường C, TP V, tỉnh Nghệ An để đánh nhau
Lúc này, nhóm Phạm Tiến D đi đến khu vực trạm bơm gần cầu B thuộc phường B, TP Vinh, tỉnh Nghệ An để lấy hung khí gồm nhiều dao phóng lợn, kiếm và nhiều vỏ chai bia thuỷ tinh rồi chia ra cho những người trong nhóm. Sau đó, Nguyễn Bảo L4 điều khiển xe máy chở Nguyễn Minh H1 ngồi sau cầm 01(một) thanh kiếm; Nguyễn Đức H điều khiển xe máy chở Nguyễn Mạnh T5 ngồi sau cầm 01(một) thanh kiếm; Hoàng Nghĩa A điều khiển xe máy chở Nguyễn Hữu H6 ngồi sau cầm 01 (một) thanh kiếm và 03 (ba) vỏ chai bia; Hà Đức N điều khiển xe máy chở Phan Văn P1 ngồi sau cầm 01 (một) thanh kiếm và 03 (ba) vỏ chai bia; Đặng Văn T8 điều khiển xe máy chở Phạm Tiến D ngồi sau cầm 01 (một) kiếm và 02 (hai) vỏ chai bia; Trần Văn Duy Đ1 điều khiển xe máy chở Võ Đức H12 cầm 01 gậy ba toong và 03 (ba) vỏ chai bia, rồi cả nhóm di chuyển đến số E, đường H, thuộc khối D, phường C, TP V để tìm Lê Hồng N2 đánh nhau. Khi đi đến đường N gần ngã tư Đại học V nhóm Phạm Tiến D gặp Phan Duy A2 (sinh ngày 24/11/2007, trú tại xóm F, xã H, TP V) điều khiển xe máy chở Bùi Trần Nam P; Nguyễn Văn L điều khiển xe máy chở Lê Quang Quyền L5, thì Phạm Tiến D rủ đi cùng nhóm D để đánh nhau và cả 04 (bốn) người đồng ý. Khi nhóm Phạm Tiến D đi đến trước Trường Tiểu học C2 trên đường H, thuộc khối D, phường C, TP V thì gặp Lê Hồng N2, Nguyễn Đình K, Trần Quang L7, Trần Quang A3, Nguyễn Công P2, Hoàng Thị Cẩm T11 và Hoàng Thị T10 đang đứng trước cửa nhà Trần Quang L7 ở số E, đường H, khối D, phường C, TP V. Tại đây, những người trong nhóm Phạm Tiến D đi đến khiêu khích nhóm Lê Hồng N2 ra đánh nhau bằng cách rà kiếm xuống mặt đường, điều khiển xe máy bấm còi inh ỏi, chiếu đèn về phía nhóm Lê Hồng N2 để đe dọa, thách thức. Khi nhóm Phạm Tiến D đi đến cách nhà Trần Quang L7 khoảng 20m thì tiếp tục nháy đèn, bấm còi inh ỏi, đồng thời cầm hung khí, chưởi bới thách thức nhóm Lê Hồng N2 đi ra để đánh nhau. Nguyễn Minh H1, Phạm Tiến D, Nguyễn Hữu H6, Nguyễn Mạnh T5 chửi bới “Địt mẹ bây, ra đây, ra đây” nhiều lần nhưng nhóm Lê Hồng N2 không ra. Nên nhóm Phạm Tiến D bỏ đi và mang hung khí trên đi cất giấu tại trạm bơm gần cầu B rồi về quán nước tại khu vực bến xe V cũ.
Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 03/7/2023, nhóm Phạm Tiến D tiếp tục đi về khu vực trạm bơm gần cầu B, thuộc phường B, TP V tập trung lấy hung khí để đi đánh nhau và rủ thêm Phạm Huy S đi cùng. Lúc này, Trần Văn D1 Đ1 đi lấy thêm 02 (hai) két vỏ chai bia và mua thêm 02 (hai) lít xăng rồi chế tạo bom xăng để quay lại tập trung cùng nhóm. Nguyễn Mạnh T5 cùng những người trong nhóm chế tạo 04 (bốn) quả bom xăng. Sau khi chuẩn bị bom xăng và hung khí xong. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm Phạm Tiến D tiếp tục đi đến nhà Trần Quang L7 ở số E đường H thuộc khối D, phường C, TP V, Nghệ An để tìm Lê Hồng N2 đánh nhau. Khi đi Nguyễn Bảo L4 điều khiển xe máy chở Phạm Huy S ngồi sau cầm theo 01 (một) thanh kiếm, 01 (một) quả bom xăng và 01 (một) vỏ chai bia; Hà Đức N điều khiển xe máy chở Lê Quang Quyền L5 ngồi sau cầm 01 (một) dao phóng lợn và 03 (ba) vỏ chai bia bằng thủy tinh; Nguyễn Văn L điều khiển xe máy chở Bùi Trần Nam P cầm 01 (một) dao phóng lợn và 04 (bốn) vỏ chai bia và chở Nguyễn Minh H1 ngồi sau cầm 01 quả bom xăng; Đặng Văn T8 điều khiển xe máy chở Phạm Tiến D ngồi sau cầm 01 (một) thanh kiếm và 02 (hai) vỏ chai bia; Nguyễn Đức H điều khiển xe máy chở Nguyễn Mạnh T5 ngồi sau cầm 01 (một) thanh kiếm và 01 (một) quả bom xăng; Hoàng Nghĩa A điều khiển xe máy chở Nguyễn Hữu H6 ngồi sau cầm 01 (một) thanh kiếm và 03 (một) vỏ chai bia; Phan Duy A2 điều khiển xe máy chở Phan Văn P1 cầm 01 (một) kiếm và 03 (ba) vỏ chai bia; Trần Văn Duy Đ1 điều khiển xe máy chở Võ Đức H12 cầm 01 gậy ba toong và 03 (ba) vỏ chai bia. Khi đi đến nhà Trần Quang L7 ở số E đường H thuộc khối D, phường C thì gặp nhóm Lê Hồng N2 đang đứng trước cửa nhà, Lê Hồng N2 có chửi “địt mẹ bây vô đây, bây vô đây”; còn nhóm Phạm Tiến D cũng cầm vỏ chai bia, bom xăng chỉ vào phía nhóm Lê Hồng N2 và chửi “địt mẹ bây ra đây, bây ra đây”. Lúc này, Phạm Huy S đốt 01(một) quả bom xăng rồi ném ra giữa đường H, Nguyễn Minh H1 cầm 01(một) quả bom xăng chỉ về phía nhóm Lê Hồng N2 chửi “địt mẹ bây ra đây”, Bùi Trần Nam P sử dụng dao phóng lợn chỉ về phía nhóm Lê Hồng N2 hò hét, chửi bới, thách thức đánh nhau với nhóm Lê Hồng N2. Nguyễn Hữu H6 cầm kiếm và 01 (một) vỏ chai bia chạy lại chửi bới thách thức nhóm Lê Hồng N2 và chửi “địt mẹ bây ra đây”; Hà Đức N, Nguyễn Bảo L4, Nguyễn Đức H, Hoàng Nghĩa A, Phan Duy A2, Đặng Văn T8, Trần Văn Duy Đ1 và Nguyễn Văn L điều khiển xe máy nháy đèn, bấm còi inh ỏi, nẹt bô, hò hét, chửi bới, thách thức đánh nhau nhưng nhóm Lê Hồng N2 không ra nên nhóm Phạm Tiến D cùng nhau di chuyển ra đường Đ, phường C, Tp V.
Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 03/7/2023, nhóm Phạm Tiến D giữ nguyên vị trí điều khiển xe máy chở nhau và số hung khí trên tiếp tục quay lại nhà Trần Quang L7 ở số E đường H, khối D, phường C để ném hết vỏ chai bia còn lại, khi đi gần đến nơi thì nhóm Phạm Tiến D dừng xe tại ngã ba cách nhà Trần Quang L7 khoảng 10m. Lúc này, Nguyễn Minh H1 cầm 01 (một) quả bom xăng châm lửa đốt rồi ném vào nhóm Lê Hồng N2 và chửi “Địt mẹ bây”; Phạm Huy S sử dụng 01 (một) vỏ chai bia ném về phía nhà Trần Quang L7 và cầm 01 (một) quả bom xăng cầm đưa lên chỉ đe dọa. Bùi Trần Nam P sử dụng 04 (bốn) vỏ chai bia ném vào nhóm Lê Hồng N2. Lúc này, nhóm Lê Hồng N2 đang đứng trên tầng 02 quan sát, do lo sợ nhóm Phạm Tiến D tấn công vào nhà nên Trần Quang L7 cầm vỏ chai bia đứng trên tầng 02 nhà ném lại về phía nhóm Phạm Tiến D. Còn nhóm Phạm Tiến D cũng cầm vỏ chai bia, bom xăng ném về phía nhà Trần Quang L7, đồng thời hò hét, chửi bới, những người ngồi sau xe thì cầm kiếm chỉ về hướng Trần Quang L7 và Lê Hồng N2 đe dọa, thách thức đánh nhau. Nhóm Lê Hồng N2 không dám ra khỏi nhà Trần Quang L7 nên một lúc sau nhóm Phạm Tiến D bỏ đi cất hung khí ở trạm bơm gần cầu B, thuộc phường B và giải tán ra về.
Từ ngày 03/7/2023 đến ngày 01/8/2023, Nguyễn Mạnh T5, Nguyễn Đức H, Lê Quang Quyền L5, Nguyễn Hữu H6, Hoàng Nghĩa A, Phan Văn P1, Đặng Văn T8, Bùi Trần Nam P, Hà Đức N, Nguyễn Bảo L4 và Nguyễn Văn L đã lần lượt đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T13 đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ lời khai của các đối tượng và người liên quan, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T13 ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Minh H1 và Phạm Huy S.
Cáo trạng số 342/CT-VKS-HS ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh đã truy tố Nguyễn Văn L, Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Mạnh T5, Phạm Huy S, Nguyễn Bảo L4, Nguyễn Hữu H6, Hoàng Nghĩa A, Hà Đức N, Bùi Trần Nam P, Đặng Văn T8, Phan Văn P1, Lê Quang Quyền L5 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 33 tháng đến 36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 87/2023/HS-ST ngày 14/04/2023 của TAND TP . Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 57 tháng đến 60 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 30 tháng đến 33 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 từ 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò và hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 293/2003/HS-ST ngày 08/9/2023 của TAND thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án từ 66 tháng đến 69 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T5 từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 321/2023/HS-ST ngày 05/10/2023 của TAND thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 39 đến 41 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Huy S từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 42 tháng đến 45 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo L4 từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 07 tháng tù tại bản án số 57/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của TAND huyện Nghi Lộc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 31 tháng đến 34 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Nghĩa A từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Trần Nam P từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang Quyền L5 từ 24 tháng đến 27 tháng tù tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 tháng đến 54 tháng kể từ ngày tuyên án 15/11/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H6 từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Đức N 21 tháng đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T8 từ 18 tháng tù đến 21 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án (15/11/2023).
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn P1 18 tháng tù đến 21 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng đến 42 tháng, tính từ ngày tuyên án (15/11/2023).
Ngoài ra, đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo H1, T5, S, L4, H6, N, T8, P1 không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo H1, T5, S, L4, H6, N, T8, P1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò, mức độ phạm tội của các bị cáo đối với hành vi bị truy tố, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị và cho các bị cáo T8, P1 được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T13, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không có tranh luận gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn điều tra và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Từ khoảng 23 giờ ngày 02/7/2023 đến 3 giờ 00 phút ngày 03/7/2023, tại khu vực trước nhà số E đường H, khối D, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Mạnh T5, Nguyễn Minh H1, Phạm Huy S, Nguyễn Đức H, Lê Quang Quyền L5, Nguyễn Hữu H6, Hoàng Nghĩa A, Phan Văn P1, Đặng Văn T8, Bùi Trần Nam P, Hà Đức N, Nguyễn Bảo L4 và Nguyễn Văn L có hành vi điều khiển xe máy nháy đèn, bấm còi inh ỏi, nẹt bô, hò hét, chửi bới, thách thức đánh nhau, cầm vỏ chai bia, bom xăng ném về phía nhà số E, đường H để thách thức đánh nhau gây náo loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực đường H, khối D, phường C, Thành phố V, tỉnh Nghệ An. Xét về nhân thân, hành vi của các bị cáo nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2]. Đây là vụ án thuộc loại nghiêm trọng, có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Tại nơi tập trung đông dân cư, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo đã liều lĩnh thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo vô cớ hành hung một người không liên quan đến mâu thuẫn của mình. Hành vi đó đã xâm hại đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng, nhiều vụ việc nghiêm trọng xảy ra, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi và mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm gương răn đe những đối tượng khác như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo L, H, T5, L4, H6, Nghĩa A, N, N, T8, Văn P1, L5 đã ra đầu thú; Gia đình các bị cáo S, L4, Nghĩa A, N, N, T8, Văn P1, L5, T5 có công với cách mạng; Bị cáo Văn P1 trong quá trình học tập được tặng thưởng nhiều giấy khen nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo đều có vai trò thực hành tích cực trong vụ án. Các bị cáo Nguyễn Đức H, Hoàng Nghĩa A, Hà Đức N, Nguyễn Văn L, Đặng Văn T8, Nguyễn Bảo L4 là nhóm điều khiển xe máy chở theo các bị cáo còn lại, di chuyển tốc độ cao. Quá trình gây rối các bị cáo la hét, chửi bới, bóp còi ỉnh ỏi, nẹt bô làm gấy mất an ninh trật tự trên địa bàn, phá vỡ tình trạng ổn định, có tổ chức có kỷ luật ở khu dân cư, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo Nguyễn Mạnh T5, Nguyễn Hữu H6, Phan Văn P1, Lê Quang Quyền L5, Phạm Huy S, Nguyễn Minh H1, Bùi Trần Nam P là nhóm bị cáo ngồi phía sau, cầm hung khí là dao phóng lợn, kiếm, vỏ chai bia và bom xăng. Quá trình gây rối các bị cáo la hét, chửi bới, sử dụng vỏ chia bia, bom xăng ném về phía nhóm Hồng N2. Hành vi trên của các bị cáo T5, H6, P, L5, S, H1, N đã gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân các bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Đức H là người đã thành niên. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần về tội Cố ý gây thương tích và xử phạt tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Ngày 14/4/2023 bị cáo bị xét xử về tội “Gây rối công cộng” và đến ngày 03/7/2023 lại tiếp tục phạm tội Gây rối trật tự công cộng chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật kém. Bị cáo chưa chấp hành bản án xét xử ngày 14/4/2023 nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 87/2023/HS-ST ngày 14/04/2023 của TAND TP . Vinh buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Văn L là người đã thành niên và cũng có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính nhiều lần và từng bị xét xử nên giữ vai trò tiếp theo. Bị cáo vừa chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/02/2022 nhưng đến ngày 03/7/2023 lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật kém vì vậy cần xử lý nghiêm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo là Nguyễn Minh H1 là bị cáo chưa thành niên phạm tội. Tuy nhiên, các bị cáo có nhiều nhân thân xấu, bị cáo liên tục phạm tội nhiều lần và bị xét xử nhiều lần trong khoảng thời gian ngắn thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém vì vậy, bị cáo giữ vai trò tiếp theo trong vụ án. Bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi vị thành niên nên cần áp dụng Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác do các bản án trước bị cáo chưa chấp hành nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành chung cho các bản án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Mạnh T5, Phạm Huy S và Nguyễn Bảo L4 là các bị cáo chưa thành niên phạm tội. Mặc dù các bị cáo cũng có nhân thân xấu nhưng ít hơn các bị cáo H1 nên cần áp dụng hình phạt thấp hơn bị cáo H1. Các bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi vị thành niên nên cần áp dụng Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác do các bản án trước các bị cáo chưa chấp hành nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt và buộc các bị cáo phải chấp hành chung cho các bản án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Hoàng Nghĩa A, bị cáo Bùi Trần Nam P là người đã thành niên và bị cáo vừa mới bị xử phạt hành chính về hanh vi “Xâm hại sức khỏe người khác” vào ngày 27/4/2023 nhưng đến ngày 03/7/2023 lại phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” nên cần xử lý nghiêm. Vì vậy cần xử bị cáo được hưởng mức đầu khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Hà Đức N, Nguyễn Hữu H6 đều đã bị xử phạt hành chính. Các bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi vị thành niên nên cần áp dụng Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn hai bị cáo Nghĩa A, N và như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Bị cáo Lê Quang Quyền L5, Đặng Văn T8 và Phan Văn P1 có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, hiện các bị cáo đang còn đi học. Các bị cáo T8, Văn P1 phạm tội khi ở độ tuổi vị thành niên nên cần áp dụng Điều 101 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.
[2.3]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) thanh đao tự chế bằng kim loại dài 93cm, lưỡi đao dài 60cm có đầu sắc nhọn, cán được làm bằng kim loại hình tròn dài 33cm; 02 (hai) thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài 80cm, lưỡi kiếm dài 60cm có đầu sắc nhọn, cán được làm bằng kim loại hình tròn dài 20cm; 02 (hai) dao phóng lợn bằng kim loại dài 135cm, lưỡi dao dài 30cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 105cm; 01 (một) dao phóng lợn bằng kim loại dài 139cm, lưỡi dao dài 34cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 105cm; 01 (một) dao phóng lợn bằng kim loại dài 122cm, lưỡi dao dài 32cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 90cm được xác định là cộng cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với các vật chứng là 01 (một) gậy ba toong và nhiều vỏ chai bia mà đối tượng sử dụng khi tham gia đánh nhau, Cơ quan CSĐT Công an T13 đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm được.
[2.4]. Về các vấn đề khác:
- Đối với Phạm Tiến D, Võ Đức H12, Phan Duy A2, Trần Văn Duy Đ1 tham gia trong vụ án với vai trò là người thực hành tích cực. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội là ngày 03/7/2023, các đối tượng là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố T13 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng theo quy định của pháp luật.
- Đối với Lê Hồng N2, Nguyễn Đình K, Trần Quang L7, Trần Quang A3 và Nguyễn Công P2 khi xảy ra sự việc, đang đứng trước cửa nhà Trần Quang L7 ở số E, đường H, phường C, thành phố V thì bị nhóm Phạm Tiến D mang theo nhiều hung khí đến khiêu khích, thách thức ra để đánh nhau nhưng nhóm Lê Hồng N2 không ra đánh lại. Sau đó, nhóm Lê Hồng N2 di chuyển lên tầng 2 nhà Trần Quang L7 thấy nhóm Phạm Tiến D tiếp tục đến sử dụng bom xăng và nhiều vỏ chai bia ném về hướng nhà Trần Quang L7. Do lo sợ nhóm Phạm Tiến D sử dụng bom xăng tấn công vào nhà nên L7 đã sử dụng vỏ chai bia ném lại về hướng nhóm Phạm Tiến D nhằm mục đích ngăn cản các đối tượng tấn công vào nhà. Vì vậy, Hành vi của nhóm Lê Hồng N2 chỉ mang tính tự vệ, không phạm tội.
[3]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 87/2023/HS-ST ngày 14/04/2023 của TAND TP. Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 57 (năm mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ, tạm giam 03/7/2023 nhưng được trừ thời gian tạm giữ tại Bản án số 87 ngày 14/04/2023 của TAND TP . Vinh từ ngày 07/02/2023 đến ngày 13/02/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/8/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò và hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 293/2003/HS-ST ngày 08/9/2023 của TAND thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả ba bản án là 66 (sáu mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ, tạm giam 19/7/2023 nhưng được trừ thời gian tạm giữ tại Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò từ ngày 03/4/2023 đến ngày 12/4/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T5 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 321/2023/HS-ST ngày 05/10/2023 của TAND thành phố Vinh buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ, tạm giam 03/7/2023 nhưng được trừ thời gian tạm giữ tại bản án số 321/2023/HS-ST ngày 05/10/2023 của TAND thành phố Vinh từ ngày 11/4/2023 đến ngày 20/4/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Huy S 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/7/2023 nhưng được trừ thời gian tạm giữ tại bản án số 16/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của TAND thị xã Cửa Lò từ ngày 08/4/2023 đến ngày 17/4/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo L4 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 07 tháng tù tại bản án số 57/2023/HS-ST ngày 31/7/2023 của TAND huyện Nghi Lộc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 31 (ba mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Nghĩa A 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Trần Nam P 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H6 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Đức N 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Quang Quyền L5 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án 15/11/2023.
Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T8 18 (mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án (15/11/2023).
Giao bị cáo cho UBND xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn P1 18 (mười tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án (15/11/2023).
Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục đối với bị cáo.
“Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.”
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh đao tự chế bằng kim loại dài 93cm, lưỡi đao dài 60cm có đầu sắc nhọn, cán được làm bằng kim loại hình tròn dài 33cm; 02 (hai) thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài 80cm, lưỡi kiếm dài 60cm có đầu sắc nhọn, cán được làm bằng kim loại hình tròn dài 20cm; 02 (hai) dao phóng lợn bằng kim loại dài 135cm, lưỡi dao dài 30cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 105cm; 01 (một) dao phóng lợn bằng kim loại dài 139cm, lưỡi dao dài 34cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 105cm; 01 (một) dao phóng lợn bằng kim loại dài 122cm, lưỡi dao dài 32cm có đầu sắc nhọn, cán dao bằng kim loại hình tròn dài 90cm hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh theo Phiếu nhập kho số NK 2024/43 ngày 10/11/2023.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh T5, Nguyễn Minh H1, Phạm Huy S, Nguyễn Đức H, Lê Quang Quyền L5, Nguyễn Hữu H6, Hoàng Nghĩa A, Phan Văn P1, Đặng Văn T8, Bùi Trần Nam P, Hà Đức N, Nguyễn Bảo L4 và Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phạm Thị Minh Hiền |
Bản án số 353/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 353/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ khoảng 23 giờ ngày 02/7/2023 đến 3 giờ 00 phút ngày 03/7/2023, tại khu vực trước nhà số 53 đường Hồ Hán Thương, khối 4, phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nguyễn Mạnh Thái, Nguyễn Minh Hiếu, Phạm Huy Sơn, Nguyễn Đức Hưng, Lê Quang Quyền Linh, Nguyễn Hữu Hòa, Hoàng Nghĩa Anh, Phan Văn Phong, Đặng Văn Tài, Bùi Trần Nam Phong, Hà Đức Nguyên, Nguyễn Bảo Long và Nguyễn Văn Lộc có hành vi điều khiển xe máy nháy đèn, bấm còi inh ỏi, nẹt bô, hò hét, chửi bới, thách thức đánh nhau, cầm vỏ chai bia, bom xăng ném về phía nhà số 53, đường Hồ Hán Thương để thách thức đánh nhau gây náo loạn, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực đường Hồ Hán Thương, khối 4, phường Cửa Nam, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
