TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG Số: 353/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-6-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Ông Đặng Anh Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Tiến Dũng– Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 291/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm T, sinh năm 2000, Nơi cư trú: số A đường M, khu phố A, phường P, TP ., tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Võ Vũ L, sinh năm 1991, nơi cư trú: số B, tổ E, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và văn bản ghi nhận ý kiến của nguyên đơn trình bày:
Cả hai tự tìm hiểu quen biết nhau, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường P, TP ., tỉnh Kiên Giang. Sau đám cưới vợ chồng đi làm ăn ở T được khoảng 6 tháng về H làm ăn sinh sống chung gia đình vợ. Quá trình chung sống anh Vũ L không lo làm ăn, bạn bè rủ rê tụ tập ăn chơi, không lo cho vợ con, chị khuyên can rất nhiều lần nhưng anh L không sửa đổi, mâu thuẫn ngày càng phát sinh trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, chị có nhờ cha mẹ chồng khuyên can nhưng không được, đến khoảng tháng 6/2023 trong lần vợ chồng cự cãi anh L bỏ ra ngoài sống, vài tháng sau thì nghe nói là anh L về quê sống với cha mẹ ruột ở P, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Sau khi đi có vài lần điện hỏi thăm con, thời gian sau này không còn liên lạc nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được, yêu cầu ly hôn với anh Võ Vũ L.
* Bị đơn anh Võ Vũ L trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình tìm hiểu quen biết nhau và thời gian chung sống với nhau thống nhất như lời Diễm T trình bày. Sau đám cưới vợ chồng đi làm ăn ở T được thời gian, cha vợ kêu về H làm ăn sinh sống chung gia đình vợ, làm ăn không thuận lợi nên tôi đi Thành phố làm tiếp, vài tháng về một lần, thời gian vợ chồng không gần gũi nhau nên tình cảm ngày càng phai nhạt, nên thời gian sau ngày càng ít khi về, tôi có liên lạc về nhưng chỉ nói chuyện với con, không liên lạc được với vợ. Vợ chồng không còn chung sống, ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, nay vợ tôi yêu cầu ly hôn tôi không muốn ly hôn, nếu vợ cương quyết thì tuỳ Toà án giải quyết.
+ Về con chung: Thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Võ Trần An N, sinh ngày 07/6/2021. Hiện cháu N đang sống với mẹ. Nếu Toà án giải quyết cho ly hôn thì tôi đồng ý giao con chung cho Diễm T tiếp tục nuôi dưỡng, tôi không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ phải thu phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với anh Vũ L. Con chung tiếp tục giao chị T, anh L không cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 10/8/2020 do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Kiên Giang cấp là hôn nhân hợp pháp. Chị T cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do rạn nứt tình cảm, không liên lạc với nhau và đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Quá trình tố tụng, anh Vũ L không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có giải pháp hàn gắn. Xét thấy, hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: con chung hiện đang sống với chị T, để đảm bảo môi trường phát triển của cháu tiếp tục giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Diễm T
1. Về hôn nhân gia đình: chị Trần Thị Diễm T được ly hôn với anh Võ Vũ L.
2. Về con chung: Giao con chung tên Võ Trần An N sinh ngày 07/6/2021 cho chị Trần Thị Diễm T được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. Anh Võ Vũ L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Vũ L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
3. Về tài sản chung: Không
4. Về nợ: Ghi nhận chị T trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
5. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006733 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Võ Vũ L không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |
Bản án số 353/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 353/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Tuyết xin ly hôn với anh Linnh
