Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 353/2025/HS-ST

Ngày: 29-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 285/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 327/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H1, sinh ngày 09 tháng 12 năm 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A B, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970 và bà Phạm Kim T, sinh năm 1973; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 17/8/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 50/2016/HSST). Chấp hành xong án phạt tù ngày 12/9/2018, chưa nộp án phí và nộp sung quỹ Nhà nước. Ngày 22/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 05/2022/HSST). Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/02/2024, đã nộp án phí, chưa nộp sung quỹ Nhà nước; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/4/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 26/2015/HSST). Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/01/2016. Xác minh kết quả thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả: không có thông tin liên quan đến bản án trên. Ngày 01/02/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố

Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng (Quyết định số: 22/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 22/5/2020. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024 và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Cao Xuân C, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: D Hồ B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 2001 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Đường số A, K, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương

- Người chứng kiến:

  1. Anh Trần Văn H3, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Địa chỉ: 156 Đường 6, Khu phố 15, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

  1. Chị Đồng Thị G, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: A Đường F, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 24/8/2024, Nguyễn Văn H1 được Nguyễn Thị Hồng D nhờ chở đi lấy đồ. H1 đồng ý và điều khiển xe mô tô Sirius màu đỏ đen, biển số: 61D1-579.75 chở Nguyễn Thị Hồng D đi. Khi đến trước địa chỉ: nhà không số, Đường số F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn H1 phát hiện anh Cao Xuân C đang dừng xe mô tô biển số 88F3-9677 sát lề đường, ngồi trên xe mô tô và đang nghe điện thoại. H1 nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh C nên điều khiển xe áp sát bên trái anh C, dùng tay phải giật điện thoại Redmi 12 của anh C rồi tăng ga bỏ chạy. Anh C nhanh chóng chạy bộ đuổi theo, khi đến trước cổng nghĩa trang G1 thì anh C nắm được cổ áo H1 làm H1 và D ngã. H1 đứng dậy chạy bộ bỏ trốn. Sau đó, anh C đưa D cùng tài sản mình bị chiếm đoạt đến Công an phường B, thành phố T để trình báo sự việc. Đến ngày 25/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phối hợp Công an P, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đưa Nguyễn Văn H1 đang lẩn trốn tại địa chỉ: 3 C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh về trụ sở để làm rõ hành vi trên.

Kết luận định giá tài sản số: 99-KV1/KLÐG-HĐĐGTS ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận: 01 điện thoại di dộng hiệu Redmi 12, màu xanh, ram 8,0 + 4,0GB, trị giá 2.467.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, màu xanh, ram 8,0+4,0GB của anh Cao Xuân C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại tài sản trên cho anh C;

01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 61D1-579.75. Qua xác minh, chiếc xe trên do bà Trần Thị T1 (sinh năm 1969; Nơi thường trú: 3 H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương) đứng tên. Bà Trần Thị T1 là vợ ông Trần Danh L (sinh năm 1971). Năm 2021, ông L mang chiếc xe trên đi làm ăn xa rồi không về. Ngày 24/8/2024, ông L cho Nguyễn Thị Hồng D mượn xe để D đi trả đồ. Ông L không biết việc D đưa xe cho Nguyễn Văn H1 và không biết việc Nguyễn Văn H1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại tài sản trên cho bà T1;

01 đôi dép màu đen, có dòng chữ “adidas” (Nguyễn Văn H1 bỏ lại tại hiện trường);

01 nón bảo hiểm màu trắng (Nguyễn Thị Hồng D đội tại thời điểm Nguyễn Văn H1 cướp giật tài sản).

Về dân sự: Anh Cao Xuân C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số: 277/CT-VKSTPTĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H1 về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 05 năm tù đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép màu đen, có dòng chữ “adidas”; 01 nón bảo hiểm màu trắng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người liên quan, kết luận định giá tài sản, trích xuất camera và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 24/8/2024, Nguyễn Văn H1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 61D1-579.75 chở theo Nguyễn Thị Hồng D. Khi đến trước nhà không số trên Đường số F, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, H1 phát hiện sát lề đường có anh Cao Xuân C đang ngồi trên xe máy và nghe điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. H1 tiến hành áp sát anh C rồi giật chiếc điện thoại Redmi 12 của anh C đang cầm, trị giá 2.467.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện hành vi nhanh chóng, bất ngờ tiếp cận chiếm đoạt tài sản của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn H1 đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện cướp giật tài sản của bị hại có thể gây nguy hiểm đến tính mạng sức khỏe của bị hại cũng như của những người khác đang tham gia giao thông, đây thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”; bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung hình phạt theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động, nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh, bị cáo đã dùng phương tiện xe mô tô công khai cướp giật chiếm đoạt tài sản của bị hại ngay trên đường giao thông, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà nay lại phạm tội, bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Đối với Nguyễn Thị Hồng D, D khai nhận có nhờ Nguyễn Văn H1 chở đi trả quần áo. H1 không bàn bạc, trao đổi với D từ trước việc H1 sẽ cướp giật tài sản. Bị cáo Nguyễn Văn H1 cũng thừa nhận việc tự nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và không bàn bạc trước với D. Do đó việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với D là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] 01 điện thoại di động hiệu Redmi 12, màu xanh, ram 8,0+4,0GB của anh Cao Xuân C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại tài sản trên cho anh C là đúng quy định.

[6.2] 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 61D1-579.75. Qua xác minh, chiếc xe trên do bà Trần Thị T1 (sinh năm 1969; Nơi thường trú: 3 H, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương) đứng tên. Bà Trần Thị T1 là vợ ông Trần Danh L (sinh năm 1971). Năm 2021, ông L mang chiếc xe trên đi làm ăn xa rồi không về. Ngày 24/8/2024, ông L cho Nguyễn Thị Hồng D mượn xe để D đi trả đồ. Ông L không biết việc D đưa xe cho Nguyễn Văn H1 và không biết việc Nguyễn Văn H1 thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã trả lại tài sản trên cho bà T1 là đúng quy định.

[6.3] 01 đôi dép màu đen, có dòng chữ “adidas” (Nguyễn Văn H1 bỏ lại tại hiện trường); 01 nón bảo hiểm màu trắng (Nguyễn Thị Hồng D đội tại thời điểm Nguyễn Văn H1 cướp giật tài sản). Bị cáo và chị D không đồng ý nhận lại, đây là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về dân sự: Anh Cao Xuân C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2024.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 đôi dép màu đen, có dòng chữ “adidas"; 01 nón bảo hiểm màu trắng.

(theo Phiếu nhập kho số: NK25/310C ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Nguyễn Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 353/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 353/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger