|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 353/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Công Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lương Thị Cúc
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Huyền
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thơi – Thư ký Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 509/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2025/QĐST-DS ngày 06/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Minh Y, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1974.
Địa chỉ: I Hồ N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 11/7/2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Đỗ Thị Minh Y trình bày:
Bà Đỗ Thị Minh Y và ông Trần Tuấn A tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/4/2018.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống bình thường đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là ông Tuấn A không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc vợ con, hay bỏ đi chơi xa và đi thời gian dài mới quay về. Năm 2022, sau thời gian bỏ đi ông Tuấn A có về sống chung được thời gian ngắn lại tiếp tục đi cho đến nay không quay về nhà nữa. Trong suốt thời gian đó giữa bà và ông Tuấn A không còn liên lạc hay qua lại với nhau. Nay bà Y xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Tuấn A để cả hai ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Bà Y xác định vợ chồng bà có 01 (một) con chung là Trần Đỗ Yến L – sinh ngày 21/5/2016. Suốt thời gian sống ly thân trẻ Lynh sống cùng cha và gia đình nhà nội tại Thành phố Hồ Chí Minh nên để ổn định cuộc sống của con, bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho ông Trần Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng hai bên tự thỏa thuận.
Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Minh Y tự khai không có.
Về nợ chung: Bà Đỗ Thị Minh Y tự khai không có.
Bị đơn ông Trần Tuấn A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đều đảm bảo đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án theo đại diện Viện Kiểm sát căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh Y cho ly hôn với ông Trần Tuấn A; về con chung: Giao con chung Trần Đỗ Yến L – sinh ngày 21/5/2016 cho ông Trần Tuấn A tiếp tục nuôi dưỡng; cấp dưỡng nuôi con: hai bên tự thỏa thuận; về tài sản chung: không có; về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Đỗ Thị Minh Y yêu cầu ly hôn với ông Trần Tuấn A. Do đó, đây là “vụ án ly hôn – mâu thuẫn gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn ông Trần Tuấn A hiện đang thực tế cư trú tại địa chỉ tại I Hồ N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh Y có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Tuấn A vắng mặt không lý do nên Tòa án giải quyết vắng mặt bà Y, ông Tuấn A theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Minh Y và ông Trần Tuấn A tự nguyện kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 09/4/2018, do đó đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Đỗ Thị Minh Y và ông Trần Tuấn A là hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Xét, tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình”. Nhưng từ khi về chung sống với nhau, giữa bà Y và ông Tuấn A thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột với nhau, không cùng nhau chia sẻ trong cuộc sống, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là ông Tuấn A không có trách nhiệm với gia đình, không chăm sóc vợ con, hay bỏ đi chơi xa, đi biền biệt một thời gian dài.
Tại khoản 2 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập...”. Tuy nhiên, từ khi kết hôn vợ chồng bà Y, ông Tuấn A chỉ sống chung với nhau được thời gian ngắn, thời gian còn lại cả hai sống ly thân, cụ thể vợ chồng bà Y sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Trong suốt thời gian sống ly thân, cả hai không còn qua lại hay liên lạc hàn gắn tình cảm với nhau.
Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tổ chức hòa giải, hàn gắn tình cảm cho vợ chồng bà Y, ông Tuấn A nhưng đều không thành, nguyên nhân là do ông Tuấn A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, điều này chứng tỏ ông Tuấn A không còn quan tâm, thiết tha cuộc sống hôn nhân với bà Y nữa, còn bà Y thì cương quyết ly hôn với ông Tuấn A. Do vậy, không còn khả năng hàn gắn hạnh phúc gia đình cho bà Y và ông Tuấn A được nữa.
Qua những phân tích trên cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Y và ông Tuấn A đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trước yêu cầu ly hôn của bà Y đối với ông Tuấn A, nghĩ nên chấp nhận.
[4.2] Về con chung: Bà Y xác nhận bà với ông Tuấn A có 01 (một) con chung tên Trần Đỗ Yến L – sinh ngày 21/5/2016, bà Y trình bày do con chung đang sống trực tiếp với ông Tuấn A và gia đình nhà nội tại Thành phố Hồ Chí Minh rất tốt nên bà đề nghị tiếp tục giao con chung cho ông Tuấn A trực tiếp nuôi dưỡng. Ngoài ra, tại văn bản trả lời xác minh cho Tòa án của Công án Phường A, Quận F thể hiện trẻ Trần Đỗ Yến L đang sống chung với ông Tuấn A tại địa chỉ I Hồ N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm ổn định cuộc sống cho trẻ và cho trẻ có cơ hội phát triển tâm sinh lý bình thường, cần thiết phải giao con chung cho ông Trần Tuấn A tiếp tục nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông Tuấn A vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bà Đỗ Thị Minh Y việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do bà tự thỏa thuận với ông Tuấn A.
[4.3] Về tài sản chung: Bà Y xác nhận không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[4.4] Về nợ chung: Bà Y xác nhận không có. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Minh Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- - Về quan hệ vợ chồng: Bà Đỗ Thị Minh Y được ly hôn với ông Trần Tuấn A.
- - Về con chung: Ông Trần Tuấn A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Đỗ Yến L – sinh ngày 21/5/2016.
Cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận.
Bà Đỗ Thị Minh Y có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Minh Y xác nhận không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Đỗ Thị Minh Y xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), bà Đỗ Thị Minh Y phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Y đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010336 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 6, bà Đỗ Thị Minh Y đã nộp xong án phí sơ thẩm.
- Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 09/4/2018 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Đỗ Thị Minh Y và ông Trần Tuấn A hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Công Hoa |
Bản án số 353/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 353/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yc
