Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 353/2024/HSPT

Ngày: 02/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Các Thẩm phán: Ông Trần Vĩnh Yên

Bà Vũ Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Tống Thị Thu H – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 212/2024/HSPT ngày 09/5/2024 đối với bị cáo Đinh Văn TĐào Trung K, do có kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T và người đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ, bà Nguyễn Thị H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

  1. Đinh Văn T; sinh năm 1986 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: Tổ H, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; gia đình có 07 anh chị, bị cáo là con thứ bảy, có vợ tên Nguyễn Thị N, chưa có con; Tiền án: không, Tiền sự: Không. Bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; có mặt tại phiên tòa.
  2. Đào Trung K; sinh năm 1990 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Chơ Ro; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T1 và bà Lý Thị B1; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba, chưa có vợ con; Tiền án: không, Tiền sự: Không. Bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lê Xuân Đ1, sinh năm 1993 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1967 (Cha ruột) và Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1973 (Mẹ ruột). Nơi đăng ký thường trú: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nơi sinh sống: Ấp F, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Lê Thế A – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: Số B N, khu phố B, phường P, TP T, tỉnh Bỉnh Dương (có mặt).

- Bị đơn dân sự:

Công ty TNHH T6. Địa chỉ: 2 M, khu phố A, phường B, quận B, TP . Người đại diện theo pháp luật: Ông Giáp Văn Đ2, sinh năm 1972. Địa chỉ: 2 M, Khu phố A, phường B, quận B, TP .. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1995 (theo Giấy ủy quyền vào ngày 15/7/2024 - có mặt);

Ngô Thị T3, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Văn Q, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Công ty C. Địa chỉ: Tầng B S, C T, phường B, Quận A, TP . (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 47 phút sáng ngày 18/02/2023 sau khi nhận gạch men ở ấp B, xã L, huyện L, Đinh Văn T điều khiển xe ô tô biển số 50LD-154.89 kéo rơ mooc biển số 51R-242.04 lưu thông trên làn đường số 04 hướng B đi Vũng Tàu. Đến 02 giờ cùng ngày khi T điều khiển xe ô tô trên đi đến lối mở giữa đường thuộc Km 25 + 00 Quốc lộ E thuộc xã L, huyện L (nơi có biển báo cấm quay đầu đối với xe tải) thì T điều khiển xe ô tô trên chuyển hướng quay đầu xe. Cùng lúc này có xe ô tô biển số 60C-581.05 do Đào Trung K điều khiển lưu thông phía sau cùng chiều chạy tới, do K đang ngủ gật nên không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm với xe T điều khiển đang quay đầu xe tại làn đường số 01. Hậu quả, anh Lê Xuân Đ1 ngồi ở ghế phụ sát cửa bên phải của xe ô tô do K điều khiển tử vong tại hiện trường.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường xác định:

  1. Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn.
  2. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, đường đôi có dải phân cách cứng phân chia đường thành 02 chiều đường xe chạy riêng biệt, mỗi chiều đường gồm có 03 làn đường dành cho xe ô tô, mỗi làn rộng 3m50 và 01 làn dành cho xe mô tô, xe máy rộng 4m có đoạn mở dải phân cách cho các phương tiện quay đầu xe chuyển hướng. H2 đi Vũng Tàu cách lối mở có biển báo P.124a (Biển cấm quay đầu đối với ô tô tải). Đầu dải phân cách có đặt biển báo hiệu 102 và 302b.

  3. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên, vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
  4. (1) Xe ô tô đầu kéo 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04.

    (2) Xe ô tô tải biển số 60C-581.05.

    (3) Biển báo cấm xe tải quay đầu.

  5. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn.
  6. Điểm mốc là điểm nhô ra gần nhất trên gốc cột đèn chiếu sáng số T nằm giữa đường.

    Lấy mép đường lề phải chiều Vũng Tàu đi B làm chuẩn để đo vẽ và mô tả hiện trường.

  7. Mô tả theo số thứ tự, vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết.
  8. Xe ô tô đầu kéo 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04 ký hiệu (1) sau tai nạn dừng lại trên đường, đầu xe hướng Vũng Tàu hơi chếch vào lề phải, đuôi xe hướng Biên Hòa, tâm trục bánh trước bên trái đo vuông góc vào lề phải là 10m10, tâm trục bánh sau thứ hai bên trái đầu kéo 50LD-154.89 đo vuông góc vào lề phải là 13m20, tâm trục bánh sau thứ ba bên trái rơmooc 51R-242.04 đo vuông góc vào lề phải là 17m, tâm trục bánh trước bên trái đo đến tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô tải biển số 60C-581.05 là 3m30.

    Xe ô tô tải biển số 60C-581.05 ký hiệu là (2) sau tai nạn dừng lại trên đường, đầu xe hướng Vũng Tàu chếch vào lề phải, đuôi xe hướng Biên Hòa chếch ra dải phân cách, tâm trục bánh trước bên trái đo vuông góc vào lề phải là 12m70.

Điểm mốc hiện trường đo đến tâm trục bánh trước bên phải đầu kéo 50LD-154.89 là 7m80.

Biển báo cấm xe tải quay đầu được ký hiệu là (3) cách hiện trường vụ tai nạn 120m nằm bên trong lề phải chiều đường Biên Hòa đi Vũng Tàu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 059 ngày 02/3/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của Lê Xuân Đ1:

  1. 2. Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
    • Chấn thương sọ não gây vỡ lún sọ trán phức tạp, tổn thương nội sọ.
    • Chấn thương ngực gãy đa xương sườn, tràn máu màng phổi hai bên.
    • Kết hợp chấn thương gãy xương đùi phải.
  2. 3. Kết luận khác:
  3. Nồng độ cồn trong máu: Không tìm thấy E và M1 trong máu.

Tại Bản kết luận giám định số 2968 ngày 04/5/2023 của V tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  1. Ô tô đầu kéo 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04 và xe ô tô biển số 60C-581.05 có va chạm với nhau.
  2. Cơ chế hình thành các dấu vết va chạm giữa các phương tiện: Dấu vết trượt xước, gãy vỡ, rách thủng biến dạng các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 60C-581.05 (cản trước, biển số, khung tản nhiệt, ca –bin, kính chắn gió, gương chiếu hậu) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, rách thủng, biến dạng các chi tiết bên trái xe ô tô biển số 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04 (khung kim loại bảo vệ thùng nhiên liệu, thùng nhiên liệu, bậc lên xuống ca-bin, phía sau ca bin; trụ kim loại phía trước rơ mooc, cung chắn bùn trục 1 rơmooc) có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải.
  3. Phía trước xe ô tô biển số 60C-581.05 và bên trái xe ô tô biển số 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04 là vị trí va chạm đầu tiên giữa các phương tiện.
  4. Khi va chạm xe ô tô biển 50LD-154.89 kéo rơmooc biển số 51R-242.04 chuyển động từ phải sang trái Quốc lộ E, hướng từ B đi Vũng Tàu; xe ô tô biển số 60C-581.05 chuyển động cùng chiều phía sau.
  5. Hai phương tiện trên không va chạm với phương tiện, vật nào khác.

Tại Bản kết luận giám định tư pháp số 143 ngày 15/5/2023 của Trung tâm đăng kiểm XCG Sở G kết luận:

“Hệ thống phanh trên xe ô tô biển số 60C-581.05 có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Trước trong và sau tai nạn giao thông, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật trên các cụm chi tiết của hệ thống phanh.

Hệ thống lái trên xe ô tô biển số 60C-581.05 có các chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Trước trong và sau tai nạn giao thông, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật trên các cụm chi tiết của hệ thống lái.

Các lốp trên xe ô tô biển số 60C-581.05 trong điều kiện sử dụng bình thường”.

Tại Bản kết luận giám định số 2596 ngày 27/7/2023 của V tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Qua nội dung tập tin video gửi giám định (ký hiệu A) nêu tại mục II.I không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô tải liên quan đến vụ tai nạn.

Về vật chứng tạm giữ: 01 xe ô tô biển số 50LD-154.89 kéo rơmoóc biển số 51R-242.04 và 01 xe ô tô biển số 60C-581.05; 01 Giấy phép lái xe hạng E, FC ghi tên Đinh Văn T và 01 giấy phép lái xe hạng C ghi tên Đào Trung K.

[2] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HSST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử:

1 Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn T, Đào Trung K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.1 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Đinh Văn T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

1.2 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo:

Xử phạt bị cáo Đào Trung K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án ngày 25/3/2024.

Giao bị cáo Đào Trung K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Hoàn trả lại cho Đinh Văn T 01 giấy phép lái xe hạng E, FC số [...] do Sở G cấp ngày 02/10/2020.
  • Hoàn trả lại cho Đào Trung K 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G cấp ngày 13/01/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, căn cứ Điều 584, Điều 591; khoản 2 Điều 601, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc Công ty TNHH T6 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 56.400.000 đồng.

Buộc bà Ngô Thị T3 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 37.600.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

[3] Ngày 04/4/2024, bị cáo Đinh Văn T có Đơn kháng cáo xin được hưởng án treo với lý do mức án quá nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn (lao động chín); bản thân chưa có tiền sự sự; đã bồi thường thiệt hại.

[4] Ngày 29/3/2024, đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H1 có Đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm với các lý do sau:

  • Về tố tụng: Cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, không tiến hành định giá tài sản bị thiệt hại;
  • Về nội dung: cấp sơ thẩm buộc Công ty TNHH T6 và bà Ngô Thị T4 (đều là chủ phương tiện) bồi thường số tiền tổn thất tinh thần 90.000.000₫ và 40.000.000₫ phần thu nhập bị mất là không phù hợp với quy định của pháp luật;

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, không chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T và Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H1 làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm;
  • Đối với bị đơn là bà Ngô Thị T3 đã được Tòa án triệu tập theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa theo quy định;

[2] Xét nội dung Đơn kháng cáo của bị cáo Định Văn T5 và Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H1, Hội đồng xét xử xác định:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Văn T và bị cáo Đào Trung K khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã mô tả (bị cáo Đào Trung K không có kháng cáo, bị cáo Đinh Văn T kháng cáo đề nghị được hưởng án treo) nên việc cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a (làm chết người) thuộc khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm trên cơ sở các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ (có xem xét đến mức độ lỗi xảy ra tai nạn là lỗi của cả hai bị cáo. Lỗi chính là của bị cáo T, là nguyên nhân chính, nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tai nạn giao thông) nên cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù đối với các bị cáo Đinh Văn T, bị cáo Đào Trung K (trong đó không cho bị cáo Đinh Văn T được hưởng án treo, cho bị cáo Đào Trung K được hưởng án treo) là có căn cứ pháp luật

[2.3] Về trách nhiệm dân sự:

  • Hồ sơ vụ án thể hiện trong quá trình điều tra:
  • Bị cáo Đào Trung K và chủ xe ô tô biển số 60C-581.05 đã thỏa thuận bồi thường xong cho đại diện bị hại số tiền 115.000.000 đồng (trong đó bị cáo K bồi thường 5.000.000 đồng, bà Ngô Thị T3 - chủ xe 60C-581.05 bồi thường số tiền 110.000.000 đồng), đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên.

    Bị cáo Đinh Văn TCông ty TNHH T6 và đã liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 145.000.000đ (một trăm bốn mươi lăm triệu đồng), đại diện bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên.

    Tổng cộng số tiền đại diện bị hại đã nhận bồi thường là 260.000.000₫ (hai trăm sáu mươi triệu đồng) và đã ó Đơn bãi nại.

  • Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện bị hại yêu cầu bồi thường thêm tiền tổn thất tinh thần là 180.000.000đ (một trăm tám mươi triệu đồng), chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất trong thời gian mai táng là 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Cấp sơ thẩm trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 591 Bộ luật Dân sự, chấp nhận mức việc yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần phù hợp và chấp nhận là 50 lần mức lương cơ sở là 50 lần x 1.800.000 đồng = 90.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường phần thu nhập thực tế bị mất trong thời gian mai táng là: (400.000 đồng/ngày/người x 5 ngày) x 2 người= 4.000.000 đồng. Tổng số tiền bồi thường thiệt hại được cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận thêm là 94.000.000 đồng (chín mươi bốn triệu đồng) là có căn cứ pháp luật.
  • Trên cơ sở xác định xe gây tai nạn, cấp sơ thẩm buộc Công ty TNHH T6 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 56.400.000 đồng (Trong đó tiền tổn thất tinh thần là 54.000.000 đồng, tiền mất thu nhập là 2.400.000 đồng). Buộc bà Ngô Thị T3 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền 37.600.000 đồng (Trong đó tiền tổn thất tinh thần là 36.000.000 đồng, tiền mất thu nhập là 1.600.000 đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.3] Đối với phần thiệt hại do tài sản bị xâm phạm:

Thiệt hại của xe ô tô tải biển số 60C-581.05 và thiệt hại xe ô tô đầu kéo 50LD-154.89 kéo rơ mooc biển số 51R-242.04 là thiệt hại của bị đơn dân sự, không phải thiệt hại của bị hại nên không tiến hành định giá để xác định khung hình phạt đối với các bị cáo;

Quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm thể hiện chủ xe ô tô biển số 60C-581.05, có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, theo đơn bà Ngô Thị T3 yêu cầu chủ phương tiện biển số 50LD-154.89 kéo rơ moóc biển số 51R-242.04, cụ thể yêu cầu Công ty TNHH T6 do ông Giáp Văn Đ2 – đại diện theo pháp luật phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị thiệt hại cho bà 271.600.000 đồng, là số tiền mà bà đã sửa xe ô tô biển số 60C-581.05, chứng cứ chứng minh cho việc sửa xe là phiếu báo giá sửa chữa Garage Auto Tuấn A1 (ngoài chứng cứ trên thì không có hoá đơn chứng từ nào khác). Đối với yêu cầu này, cấp sơ thẩm quyết định “Tách phần dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bà Ngô Thị T3 đối với bị cáo Đào Trung K theo quy định pháp luật” là có căn cứ pháp luật;.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Đinh Văn T và đại diện bị hại kháng cáo, nhưng không nêu lên được các tình tiết mới (ngoài các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá);

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không cơ sở chấp nhận Đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, không có cơ sở chấp nhận Đơn kháng cáo của đại diện bị hại nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm (rút kinh nghiệm cấp sơ thẩm về việc buộc đại diện bị hại phải nộp tạm ứng án phí khi thực hiện quyền kháng cáo);

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

  • Do đơn kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đinh Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định;
  • Hoàn trả lại cho đại diện bị hại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015534 ngày 03/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành;

[4] Đối với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; ý kiến của người bảo vệ quyền lợi người đại diện hợp pháp cho bị hại và người tham gia tố tụng khác đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.

Vị các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, kháng cáo của người đại diện hợp pháp bị hại là ông Lê Xuân Đ và bà Nguyễn Thị H1. Giũ nguyên bản án sơ thẩm.

1 Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Văn T, Đào Trung K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.1 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án Đinh Văn T vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù.

1.2 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo:

Xử phạt bị cáo Đào Trung K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án ngày 25/3/2024.

Giao bị cáo Đào Trung K cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự, Căn cứ Điều 584, Điều 591; khoản 2 Điều 601, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Buộc Công ty TNHH T6 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 56.400.000 đồng.

Buộc bà Ngô Thị T3 bồi thường cho ông Lê Văn Đ3, bà Nguyễn Thị H1 - là đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 37.600.000 đồng.

Tách phần dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bà Ngô Thị T3 đối với bị cáo Đào Trung K theo quy định pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong số tiền phải thi hành thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự

3. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Hoàn trả lại cho đại diện bị hại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015534 ngày 03/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

5. Bản án phúc thẩm có hiện lực pháp luật kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân H.Long Thành;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H.Long Thành;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H.Long Thành;
  • - Công an H.Long Thành;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Nhà tạm giữ CA.VC (2);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phương Đ4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 353/2024/HSPT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 353/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 01 giờ 47 phút sáng ngày 18/02/2023 sau khi nhận gạch men ở ấp B, xã L, huyện L, Đinh Văn T điều khiển xe ô tô biển số 50LD-154.89 kéo rơ mooc biển số 51R-242.04 lưu thông trên làn đường số 04 hướng B đi Vũng Tàu. Đến 02 giờ cùng ngày khi T điều khiển xe ô tô trên đi đến lối mở giữa đường thuộc Km 25 + 00 Quốc lộ E thuộc xã L, huyện L (nơi có biển báo cấm quay đầu đối với xe tải) thì T điều khiển xe ô tô trên chuyển hướng quay đầu xe. Cùng lúc này có xe ô tô biển số 60C-581.05 do Đào Trung K điều khiển lưu thông phía sau cùng chiều chạy tới, do K đang ngủ gật nên không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm với xe T điều khiển đang quay đầu xe tại làn đường số 01. Hậu quả, anh Lê Xuân Đ1 ngồi ở ghế phụ sát cửa bên phải của xe ô tô do K điều khiển tử vong tại hiện trường.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger