|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 352/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18-9-2024
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa
chị Lan Anh và anh Việt Anh
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn
Bà Trần Thị Ánh Tuyết
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý 286/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về “Ly hôn tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Lan A, sinh năm 1983; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A L, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định. Số căn cước công dân [...]
Bị đơn: Anh Vũ Việt A1, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú: Số A L, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số H B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Số căn cước công dân [...].
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn chị Trần Thị Lan A và anh Vũ Việt A1 do có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại Đơn khởi kiện đề ngày 01-8-2024; Bản tự khai ngày 16 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Lan A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Việt A1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu khoảng một năm và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N), thành phố N vào ngày 24-10-2007. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống và không thể hòa giải. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Trần Thị Lan A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể khắc phục nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vũ Việt A1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Trần Quỳnh A2, sinh ngày 29-6-2008, giới tính nữ và Vũ Trần Đăng K, sinh ngày 13-01-2014, giới tính nam. Về việc nuôi con: chị Lan A có quan điểm được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con là Vũ Trần Quỳnh A2 và Vũ Trần Đăng K. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lan A không yêu cầu anh Vũ Việt A1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Lan A xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.
Do công việc không thể tham gia phiên toà nên ngày 05 tháng 9 năm 2024 chị Trần Thị Lan A có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
2. Tại Bản tự khai ngày 31-8-2024 tại Văn phòng C, số E B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị đơn anh Vũ Việt A1 trình bày:
Về điều kiện kết hôn: Anh Vũ Việt A1 và chị Trần Thị Lan A kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N), thành phố N vào ngày 24-10-2007.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm lối sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay anh Việt A1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng nên cũng nhất trí ly hôn và thống nhất lựa chọn Toà án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết vụ án Hôn nhân và gia đình với chị Lan A.
Về con chung: Anh Vũ Việt A1 cũng xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Vũ Trần Quỳnh A2, sinh ngày 29-6-2008, giới tính nữ và Vũ Trần Đăng K, sinh ngày 13-01-2014, giới tính nam. Về việc nuôi con: Nhất trí với yêu cầu của chị Lan A về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung: anh Vũ Việt A1 xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.
Đồng thời tại bản tự khai ngày 31-8-2024, anh Vũ Việt A1 cũng đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
3. Tại biên bản xác minh thu thập, chứng cứ ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại tổ dân phố số G phường L, thành phố N xác nhận: chị Trần Thị Lan A và anh Vũ Việt A1 có đăng ký thường trú tại địa chỉ số A L, phường L, thành phố N từ cuối năm 2017. Đến khoảng cuối năm 2021 đầu năm 2022, anh Việt A1 đã hủy đăng ký thường trú tại địa chỉ trên. Trong quá trình chung sống giữa chị Lan A và anh Việt A1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã, không thể hòa giải. Về con chung: vợ chồng chị Lan A và anh Việt A1 có 02 con chung là Vũ Trần Quỳnh A2, sinh ngày 29-6-2008, giới tính nữ và Vũ Trần Đăng K, sinh ngày 13-01-2014, giới tính nam. Hiện tại hai cháu Vũ Trần Quỳnh A2 và Vũ Trần Đăng K đang được chị Trần Thị Lan A trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:
Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các qui định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lan A và anh Việt A1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lan A và anh Việt A1. Về con chung: Hiện tại hai con chung là Vũ Trần Quỳnh A2 và Vũ Trần Đăng K đang sinh sống ổn định với chị Trần Thị Lan A. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao hai con chung Vũ Trần Quỳnh A2 và Vũ Trần Đăng K cho chị Trần Thị Lan A chăm sóc và nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lan A về việc chị Lan A không yêu cầu anh Việt A1 phải cấp dưỡng. Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Lan A và anh Việt A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị Lan A là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Lan A, bị đơn anh Vũ Việt A1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Lan A và anh Vũ Việt A1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là phường N), thành phố N vào ngày 24-10-2007 nên hôn nhân giữa chị Lan A và anh Việt A1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm, khác biệt nhau về tính cách và lối sống, hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Chị Lan A xin ly hôn, anh Việt A1 cũng nhất trí điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan A và anh Việt A1 đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Lan A và anh Việt A1.
[3] Về con chung:
3.1.Về việc nuôi con: Chị Lan A và anh Việt A1 có 02 con chung là Vũ Trần Quỳnh A2, sinh ngày 29-6-2008, giới tính nữ và Vũ Trần Đăng K, sinh ngày 13-01-2014, giới tính nam. Về việc nuôi con, chị Lan A có nguyện vọng nuôi cả hai con, anh Việt A1 cũng có quan điểm nhất trí giao cả hai con cho chị Lan A chăm sóc và nuôi dưỡng. Mặt khác, hiện tại các cháu Vũ Trần Quỳnh A2 và cháu Vũ Trần Đăng K cũng đang sinh sống ổn định với chị Lan A nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao hai con Vũ Trần Quỳnh A2 và Vũ Trần Đăng K cho chị Trần Thị Lan A chăm sóc và nuôi dưỡng.
3.2. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Trần Thị Lan A không yêu cầu anh Vũ Việt A1 phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu trên của chị Lan A là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Trần Thị Lan A và anh Vũ Việt A1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Lan A là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Lan A và anh Vũ Việt A1.
- Về nuôi con chung: Giao con Vũ Trần Quỳnh A2, sinh ngày 29-6-2008, giới tính nữ và Vũ Trần Đăng K, sinh ngày 13-01-2014, giới tính nam cho chị Trần Thị Lan A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Lan A về việc chị Lan A không yêu cầu anh Vũ Việt A1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Lan A phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ khoản tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị Lan A đã nộp tại Biên lai số 0002260 ngày 14-8-2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Lan A, anh Vũ Việt A1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Kim Huế |
Bản án số 352/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 352/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân giữa chị Lan Anh và anh Việt Anh
