Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 352/2023/HS-ST

Ngày: 14/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quốc Đấu

2. Bà Phan Kim Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 430/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn T (tên gọi khác không); sinh năm: 1996, tại huyện K, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản Y, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: xóm H, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi V, sinh năm: 1964; con bà: Kha Thị H – sinh năm: 1966; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 11/9/2023 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 16 giờ, ngày 11/9/2023, Vi Văn T điều khiển xe mô tô, biển số 38H-329.64 đến khu vực phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đây, T gặp một người đàn ông làm nghề xe ôm tên là C (T không rõ lai lịch, địa chỉ), T hỏi C “Anh có biết chỗ mô bán ma túy”, C nói “Mua loại chi, mua từng mô”? T trả lời “Mua cho em 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy Heroine, C đồng ý. Lúc này, T đưa số tiền 500.000 đồng cho C, C điều khiển xe máy, đi một lúc sau C quay lại nói T khiển khiển xe đi theo C, đi được khoảng 50 m đến khu vực rạp chiếu phim 12/9 thuộc khối D, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, C chỉ cho T một gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa ma túy nằm trên mặt đất sau đuôi chiếc xe ô tô tải. Sau khi lấy được ma túy, T cất vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe máy đi về nhà, khi đi đến khu vực bên hông rạp 12-9 thì bị tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải của T một gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ Công tác tiến hành thu giữ vật chứng và dẫn giải T về trụ sở Công an thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng.

Vật chứng vụ án: Một gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,067 gam, số vật chứng còn lại và vỏ giấy niêm phong được bỏ vào một phong bì thư dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật, hiện được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh. 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 38H-329.64, quá trình điều tra xác định là của anh Hồ Mạnh T1, sinh năm 2001; trú tại T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, anh T1 đã đi xuất khẩu lao động trước khi đi anh T1 đã giao xe cho vợ chồng chị gái ruột là chị Hồ Thị N và anh Lê Hoài N1 trú tại xóm T, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An quả lý. Việc T mượn xe sử dụng làm phương tiện phạm tội chị N và anh N1 không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 11/9/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V và Kết luận giám định số: 924/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 15/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Vi Văn T đến đến giám định là ma túy (Heroine), có khối lượng là 0,167 gam.

Tại Bản cáo trạng số: 360/CTP V ngày 17/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Vi Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về nội dung:
    1. Xét hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 17 giờ, ngày 11/9/2023, tại khu vực R thuộc khối D, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Vi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,167 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng thì bị Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của Vi Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng.

[2.2]. Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tội phạm thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi đó gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn tại địa phương là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy mang lại cho bản thân và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt. Cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không công ăn việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[2.4]. Về vật chứng: Một gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, bên trong chứa chất cục bột màu trắng, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,067 gam được bỏ vào một phong bì thư dán kín và niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 38H-329.64, quá trình điều tra xác định là của anh Hồ Mạnh T1, sinh năm 2001; trú tại T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện anh T1 đã đi xuất khẩu lao động trước khi đi anh T1 đã giao xe cho vợ chồng chị gái ruột là chị Hồ Thị N và anh Lê Hoài N1 trú tại xóm T, xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An sử dụng, quản lý. Việc T mượn xe sử dụng làm phương tiện phạm tội chị N và anh N1 không biêt, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N là phù hợp quy định pháp luật.

[2.5]. Đối với người đàn ông tên C bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để xử lý trong vụ án này. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh là rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

[2.6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Vi Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, dán kín thu giữ của Vi Văn T. Vật chứng hiện có tại, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số: NK 2024/24 ngày 24 tháng 10 năm 2023.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp và quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vi Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Viện kiểm sát ND thành phố Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Vinh;
  • - Công an thành phố Vinh;
  • - Trại tạm giam công an Nghệ An;
  • - UBND xã Mỹ Lý, Kỳ Sơn;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 352/2023/HS-ST ngày 14/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 352/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Văn T "Tàng trữ trái phép chất ma túy" có hành vi tàng trữ trái phép 0,167 gam ma túy Heroine mục đích sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger