Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 352/2024/DS-PT

Ngày 09-7-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tặng

cho quyền sử dụng đất; yêu cầu

tuyên hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất bị vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Trúc;
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên

tòa: Ông Phan Văn Lợi – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 52/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 257/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Â, sinh năm 1967; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn:

  1. Bà Hồ Thị T, sinh năm 1944; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.
  2. Người đại diện hợp pháp của bà Hồ Thị T: Bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 1973; địa chỉ: số B, Lê Thị T1, tổ A, khu B, phường P, thành phố T, tỉnh

Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/8/2022); có mặt.

  1. Ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Nam H: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Phương T2, sinh năm 1972; địa chỉ: số D, H, khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng :

  1. Ông Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Lê Ngọc Q, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trịnh Thị Â và bị đơn bà Hồ Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn (bà Â) trình bày:

Bà Hồ Thị T sống cùng ông Trịnh Văn Ả (đã chết năm 1969), khi sống cùng ông Ả thì bà T và ông Ả có với nhau 01 con chung tên Trịnh Thị Â, sinh năm 1967. Sau khi ông Ả chết thì bà T sống cùng ông Nguyễn Văn L (đã chết năm 1984), quá trình sống cùng ông L thì bà T và ông L sinh được 03 người con gồm: Nguyễn Phương T2, sinh năm 1972; Nguyễn Kim T4, sinh năm 1976; Nguyễn Nam H, sinh năm 1978.

Vào ngày 25/3/2001 giữa bà Â với bà T, ông H có ký kết Giấy sang nhượng đất để bà T, ông H thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Â phần đất có diện tích 18.000m² (không đo đạc) thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương với giá 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), trong số 60.000.000 đồng thì có 35.000.000 đồng tiền mặt, còn 25.000.000 là giá trị đổi căn nhà và đất (phần đất diện tích có chiều ngang 10 m, chiều dài 30 m, có căn nhà tường cấp 4 hiện bà Â đã giao cho ông H, bà T quản lý sử dụng), bà Â đã giao tiền, giao nhà, giao đất đầy đủ cho bà T, ông H vào năm 2001; ông H, bà T đã giao đất cho bà Â sử dụng, bà Â tiến hành quản lý canh tác đất từ năm 2001 cho đến nay. Thời điểm ký giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001, phần đất có diện tích 18.000m² được Nhà nước cấp Sổ bông lúa cho

bà T. Ngày 09/01/2004, hộ bà Hồ Thị T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01734 QSDĐ/QĐ-UB đối với phần đất trên. Tại thời điểm cấp đất hộ bà T gồm có: bà Hồ Thị T, bà Nguyễn Phương T2, ông Phạm Xuân D, bà Nguyễn Kim T4, ông Nguyễn Nam H, ông Nguyễn Quốc V. Năm 2007, gia đình bà Â, bà T, ông H chuyển nhượng cho Công ty G phần đất có diện tích 9.484,96m², còn lại diện tích 9.128m². Từ khi ký giấy sang nhượng đất năm 2001 cho đến nay, bà Â đã quản lý sử dụng đất nhưng bà T, ông H không làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất diện tích 9.128m² cho bà Â.

Vì vậy, bà Â khởi kiện yêu cầu bà T, ông H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy sang nhượng đất ký ngày 25/3/2001 được ký kết giữa bà Â và bà T, ông H đối với phần đất có diện tích 9.128m² thuộc một phần thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Do thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết chia tài sản chung, chia thừa kế bằng Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 và đã được Chi cục thi hành án dân sự huyện D thi hành án. Theo Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 thì bà T được chia phần đất có diện tích 6.390m², bà T2 được chia một phần đất có diện tích là 912,4m²; còn ông H được chia một phần đất có diện tích là 912,4m² nhưng ông H đã giao cho bà Â phần đất này vì cho rằng ông H đã chuyển nhượng đất cho bà Â nên bà Â được chia một phần đất có diện tích là 1826,4m². Vì vậy, bà Â có đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Bà Â yêu cầu bà T tiếp tục chuyển nhượng cho bà Â phần đất có diện tích 6.390m², đối với phần đất 912,4m² thì ông H đã giao cho bà Â nên bà Â xin rút yêu cầu đối với diện tích 912,4m², còn diện tích còn lại: 1.825,6m² (9.128m² - (6.390m² + 912,4m²) ) bà Â yêu cầu bà T, ông H có trách nhiệm liên đới thanh toán bằng tiền theo đơn giá 1.544.000 đồng/m² của Chứng thư thẩm định giá do Công ty L1 thẩm định với số tiền là 2.818.726.400 đồng. Bà Â đồng ý thanh toán giá trị toàn bộ tài sản trên đất của bà T theo giá trị đã được định giá theo biên bản định giá ngày 12/4/2023.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Â thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu tuyên giấy sang nhượng đất được ký kết giữa bà Â và bà T, ông H ngày 25/3/2001 bị vô hiệu theo như nhận định tại Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, yêu cầu xử lý hợp đồng bị vô hiệu và yêu cầu bà T, ông H phải thanh toán toàn bộ giá trị đất theo đơn giá 1.544.000 đồng/m² của Chứng thư thẩm định giá của Công ty L1, vì bà Â không có lỗi làm cho hợp đồng bị vô hiệu, mà lỗi hoàn toàn do cụ T, ông H. Bà Â đã thanh toán đủ tiền và đã nhận đất sử dụng công khai, mọi người đều biết mà không có ý kiến, bà Â đã nhiều lần yêu cầu cụ T và ông H làm thủ tục sang tên cho bà Â nhưng cụ T và ông H không thực hiện. Bà Â chỉ có lỗi là quá thương, quá tin tưởng mẹ là cụ T nên mới xảy ra tranh chấp như hôm nay.

Bà Â đồng ý với kết quả đo đạc theo Mảnh trích lục số 1525-2022 ngày 04/11/2022, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/10/2022, ngày

07/4/2023 và kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty L1 ngày 24/4/2023 với số tiền 2.818.726.400 đồng. Ngoài ra, bà Â không có yêu cầu gì khác.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà T (bà N) trình bày:

Bà T thừa nhận vào ngày 25/3/2001 giữa bà Â với bà T, ông H có ký kết Giấy sang nhượng đất để bà T, ông H chuyển nhượng cho bà Â phần đất có diện tích 18.000m² (không đo đạc) thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương với giá 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng), bà Â đã giao tiền đầy đủ cho ông H, bà T không biết việc ông H nhận tiền của bà Â, bà T chỉ ký tên với tư cách là người làm chứng; ông H, bà T đã giao đất cho bà Â sử dụng, bà Â tiến hành quản lý canh tác đất từ năm 2001 cho đến nay. Năm 2007, gia đình bà Â, bà T, ông H chuyển nhượng cho Công ty G phần đất có diện tích 9.484,96m², còn lại diện tích 9.128m².

Theo đơn khởi kiện của bà Trịnh Thị Â thì bà Â yêu cầu bà T và ông Nguyễn Nam H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Â, ông H và bà T vào ngày 25/3/2001 đối với quyền sử dụng đất có diện tích 9.128m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương do bà Hồ Thị T đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W962722 (vào sổ số 01734) ngày 09/01/2004. Năm 2004, khi Nhà nước tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, thời điểm này bà T là người vẫn sinh sống trên đất và được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/01/2004, số vào sổ 01734 QSDĐ/QĐ-UB cho hộ bà Hồ Thị T trong đó có phần đất diện tích 9.128m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp A (nay là ấp Đ), xã T, huyện D thuộc một phần của diện tích 1,8 ha mà ông H đã chuyển nhượng cho bà Â. Phần đất tranh chấp này bà Â khởi kiện vụ án khác vào ngày 28/8/2018 với yêu cầu ông H phải tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ được kí kết theo “Giấy sang nhượng đất” vào ngày 25/3/2001 giữa bà Â với ông H và bà T. Vụ án này đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết theo Bản án phúc thẩm số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022. Theo Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 thì bà T được chia phần đất có diện tích 6.390m², bà T2 được chia một phần đất có diện tích là 912,4m²; còn ông H được chia một phần đất có diện tích là 912,4m² nhưng ông H đã giao cho bà Â phần đất này vì cho rằng ông H đã chuyển nhượng đất cho bà Â nên bà Â được chia một phần đất có diện tích là 1.826,4m².

Việc bà Â lập “Giấy sang nhượng đất” với bà T và ông H vào ngày 25/3/2001 là không đúng theo quy định của pháp luật do không tuân thủ về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng không được công chứng chứng thực đúng quy định và không có tất cả các con của cụ L ký tên (do phần đất này là di sản của cụ L để lại) nên hợp đồng này không hợp pháp. Vì vậy, bà T đã phản tố yêu cầu Tòa án tuyên “Giấy sang nhượng đất” vào ngày 25/03/2001

giữa bà Trịnh Thị Â (người mua đất) với ông Nguyễn Nam H (người sang đất) và bà Hồ Thị T bị vô hiệu.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà N xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố. Theo giấy tờ bà Â cung cấp cho Tòa án thì ngày 25/3/2001 ông H chuyển nhượng cho bà Â khu đất có diện tích 18.000m² mà bà Hồ Thị T đã cho ông H trước đây với giá chuyển nhượng 60.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng đất này chỉ ký kết giữa ông H và bà Â, ông H cũng là người nhận tiền và sử dụng tiền, bà T chỉ ký với tư cách người làm chứng, bà T hoàn toàn không biết đến số tiền 60.000.000 đồng bà Â đã giao cho ông H. Do vậy, khi hợp đồng bị vô hiệu thì ông H có nghĩa vụ, trách nhiệm với bà Â; còn bà T không liên quan. Lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu là do lỗi của bà Â 50%, ông H 50%. Bà T đồng ý tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng không đồng ý với yêu cầu của bà Â về việc yêu cầu bà T, ông H phải thanh toán toàn bộ giá trị thửa đất theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty LAHA ngày 24/4/2023 với số tiền là 13.682.156.000 đồng. Vì bà T chỉ ký tên người làm chứng, không có trách nhiệm gì với bà Â.

Bà N đồng ý với kết quả đo đạc theo Mảnh trích lục số 1525-2022 ngày 04/11/2022, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/10/2022, ngày 07/4/2023 và kết quả định giá theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty LAHA ngày 24/4/2023.

* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, bị đơn ông H và người đại diện hợp pháp của ông H: Vắng mặt không cung cấp bản tự khai, lời trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Theo bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà T2) trình bày:

Bà T2 là con gái của cụ T, người chồng thứ nhất của cụ T là cụ Trịnh Văn Ả, chết năm 1969, cụ T và cụ Ả có một người con chung là Trinh Thị Â. Người chồng thứ hai của cụ T là cụ Nguyễn Văn L (tên gọi khác là Nguyễn Văn Ú), chết năm 1984. Cụ T và cụ L có 03 người con chung là: Bà Nguyễn Phương T2, sinh năm 1972, bà Nguyễn Thị Kim T5, sinh năm 1976 và ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1979. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc nằm trong phần đất có tổng diện tích 33.521m² do cha mẹ bà T2 là cụ T và cụ L khai phá sau giải phóng năm 1975, thuộc thửa đất số 03 và thửa số 73, tờ bản đồ số 03 và 45, tọa lạc tại ấp A (nay là ấp Đ), xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Bà T2 không đồng ý với yêu cầu của bà Â về việc yêu cầu cụ T, ông H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “Giấy sang nhượng đất” được ký kết giữa bà Â với cụ T và ông H vào ngày 25/3/2001 do “Giấy sang nhượng đất” được ký kết ngày 25/3/2001 là không đúng theo quy định của pháp luật do không tuân thủ về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng không được công chứng chứng thực đúng quy định và không có tất cả các con của cụ L ký tên (do phần đất này là di sản của cụ L để lại) nên hợp đồng này bị vô hiệu. Mặt khác, phần đất tranh chấp cũng đã được giải quyết theo Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh bình D1, bản án quyết định chia cho cụ T phần đất có diện tích 6.390m², bà Â được chia một phần đất có diện tích là 912,4m², bà T2

được chia một phần đất có diện tích là 912,4m², ông H được chia một phần đất có diện tích là 912,4m² nhưng ông H đã giao cho bà Â phần đất này vì cho rằng ông H đã chuyển nhượng đất cho bà Â nên bà Â được chia phần đất có tổng diện tích là 1.826,4m².

* Tại văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T trình bày:

“Giấy sang nhượng đất” được ký kết giữa bà Trịnh Thị Â với Hồ Thị T và ông Nguyễn Nam H vào ngày 25/3/2001 được Ban lãnh đạo ấp Đ xác nhận ngày 02/4/2001, cán bộ địa chính ký xác nhận ngày 25/5/2001 và được Cán bộ Tư pháp ký xác nhận ngày 25/5/2001. Ủy ban nhân dân xã T xác định tại thời điểm ngày 25/5/2001 ông Nguyễn Văn B và ông Lê Ngọc Q là cán bộ của xã T có ký xác nhận vào giấy sang nhượng đất. UBND xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người làm chứng (ông T3) trình bày:

Ông T3 là Trưởng Ban lãnh đạo ấp Đ năm 2001 (ấp A). Năm 2001 khi ấp Đ còn là ấp A, ông H cùng bà T có làm giấy sang nhượng đất lại cho bà Â với diện tích là 18.000m² (1,8 ha) trên đất có 01 căn nhà cấp 4 với số tiền thỏa thuận là 60.000.000 đồng là có sự thật.

* Tại bản tự khai, đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, người làm chứng (ông Q) trình bày:

Ông Q làm cán bộ địa chính xã T giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2002. Ông Q xác nhận vào ngày 25/5/2001 theo yêu cầu của bà T, ông H và bà Â thì Ủy ban nhân dân xã T có ông Q à ông Nguyễn Ngọc T3 là Trưởng ấp Đ (ấp A cũ) cùng ông Nguyễn Văn B là Cán bộ Tư pháp xã T đã ký xác nhận vào “Giấy sang nhượng đất” được ký kết giữa bà Trịnh Thị Â với Hồ Thị T và ông Nguyễn Nam H vào ngày 25/3/2001.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Trịnh Thị Â.
    1. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “Giấy sang nhượng đất” ký kết ngày 25/3/2001 giữa bà Trịnh Thị Â và bà Hồ Thị T, ông Nguyễn Nam H bị vô hiệu.
    2. Bà Hồ Thị T có trách nhiệm thanh toán cho bà Trịnh Thị Â số tiền 1.408.745.600 đồng (một tỷ bốn trăm lẻ tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).
    3. Bà Hồ Thị T và ông Nguyễn Nam H có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Trịnh Thị Â số tiền 5.403.972.800 đồng (năm tỷ bốn trăm lẻ ba triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn tám trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với phần đất có diện tích 266,5m² của bà Trịnh Thị Â.
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị T về việc “Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu” và xử lý hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng và về quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 14/12/2023 nguyên đơn bà Trịnh Thị Â có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 18/12/2023, bị đơn bà Hồ Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Trịnh Thị Â, người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Hồ Thị T vẫn giữ nguyên kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Vào ngày 25/3/2001 giữa bà Â với bà T, ông H có ký kết Giấy sang nhượng đất để bà T, ông H thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Â phần đất có diện tích 18.000m² (không đo đạc) thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương với giá 60.000.000 đồng, trong số 60.000.000 đồng có 35.000.000 đồng tiền mặt và 25.000.000 là giá trị đổi căn nhà và đất (phần đất diện tích có chiều ngang 10m, chiều dài 30m, có căn nhà tường cấp 4 hiện bà Â đã giao cho ông H, bà T quản lý sử dụng), bà Â đã giao tiền, giao nhà, giao đất đầy đủ cho bà T, ông H vào năm 2001; ông H, bà T đã giao đất cho bà Â sử dụng, bà Â tiến hành quản lý canh tác đất từ năm 2001 cho đến nay. Thời điểm ký giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001, phần đất có diện tích 18.000m² được Nhà nước cấp Sổ bông lúa cho bà T. Ngày 09/01/2004, hộ bà Hồ Thị T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 01734 QSDĐ/QĐ-UB đối với phần đất trên. Tại thời điểm cấp đất hộ bà T gồm có: bà Hồ Thị T, bà Nguyễn Phương T2, ông Phạm Xuân D, bà Nguyễn Kim T5, ông Nguyễn Nam H, ông Nguyễn Quốc V. Năm 2007, gia đình bà Â, bà T, ông H chuyển nhượng cho Công ty G phần đất có diện tích 9.484,96m², còn lại diện tích 9.128m². Từ khi ký giấy sang nhượng đất năm 2001 cho đến nay, bà Â đã

quản lý sử dụng đất nhưng bà T, ông H không làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất diện tích 9.128m² cho bà Â.

Theo Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thì bà T được quyền quản lý sử dụng phần đất có diện tích 6.390m² và tài sản trên đất.

Phần đất 18.000m² theo giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 là của hộ bà T gồm có: bà Hồ Thị T, bà Nguyễn Phương T2, ông Phạm Xuân D, bà Nguyễn Kim T5, ông Nguyễn Nam H, ông Nguyễn Quốc V nhưng bà T và ông H định đoạt chuyển nhượng cho bà Â mà không có ý kiến của thành viên hộ gia đình nên giao dịch chuyển nhượng đất ngày 25/3/2001 bị vô hiệu một phần (có hiệu lực tương ứng với phần của bà T, ông H được chia theo Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định vô hiệu toàn bộ là không có căn cứ.

Nguyên đơn xác định nhận chuyển nhượng toàn bộ phần đất 18.000m² với giá là giá 60.000.000 đồng (gồm: 35.000.000 đồng tiền mặt, 25.000.000 là giá trị đổi căn nhà và đất (phần đất diện tích có chiều ngang 10 m, chiều dài 30 m, có căn nhà tường cấp 4 hiện bà Â đã giao cho ông H, bà T quản lý sử dụng), hai bên đã giao tiền, nhà, đất cho nhau vào năm 2001). Nếu xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/3/2001 vô hiệu thì căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”: bà T, ông H phải trả lại tiền chuyển nhượng nhà, đất dùng làm phương tiện thanh toán tiền chuyển nhượng cho bà Â; bà Â giao lại đất cho bà T, ông H (phần này, bà Â đã giao đất cho bà T theo kết quả thi hành Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022). Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ nhà và đất mà bà Â dùng làm phương tiện thanh toán để giải quyết hậu quả khi tuyên giao dịch chuyển nhượng vô hiệu.

Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về xác minh, thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ chưa khách quan, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn bà T, hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại (trừ những phần đình chỉ).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1.] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Nam H là ông Nguyễn Đình P vắng mặt nhưng được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nên căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Đình P. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Phương T2, Ủy ban nhân dân xã T, huyện D; người làm chứng: ông Nguyễn Ngọc T3, ông Lê Ngọc Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.

[1.2] Kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị Â và bị đơn bà Hồ Thị T là trong hạn luật định nên Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.3] Ngày 14/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Nam H có đơn kháng cáo quá hạn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã mở phiên họp Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 05/2024/QĐ-PT với nội dung không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của ông Nguyễn Nam H đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, nên yêu cầu kháng cáo của ông H không được xem xét trong vụ án này.

[2] Về nội dung vụ án: Theo đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị Â và bị đơn bà Hồ Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn xác định chỉ kháng cáo tại điểm 1.2, 1.3 Mục 1 của phần quyết định của bản án sơ thẩm. Việc đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về việc “Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu” và xử lý hậu quả của hợp đồng bị vô hiệu thì nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của bị đơn không kháng cáo.

Nguyên đơn xác định chỉ kháng cáo đối với phần đất chuyển nhượng của cụ T và ông H diện tích 9.128m², đo đạc thực tế là 8.861,5m² nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết diện tích 6.390m² còn diện tích 2.470m² chưa được xem xét giải quyết. Về yêu cầu xem xét lỗi thì nguyên đơn xác định việc chuyển nhượng đất nguyên đơn không có lỗi, bị đơn phải chịu lỗi 100%.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn kháng cáo cho rằng bị đơn chỉ đồng ý yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu nhưng không đồng ý chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho nguyên đơn, lý do bị đơn không có ký giấy chuyển nhượng và nhận tiền của nguyên đơn.

Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết trong phạm vi nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn cụ T đối với các phần khác không kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực.

Nguyên đơn bà Â khởi kiện yêu cầu cụ T, ông H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 25/3/2001 đối với diện tích 9.128m² (đo đạc thực tế 8.861,5m²) thuộc thửa số 03 tờ bản đồ 03 tại xã T,

huyện D được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 09/01/2004 cho bà Hồ Thị T.

Bị đơn cụ T phản tố yêu cầu Tòa án tuyên “giấy sang nhượng đất” ngày 25/03/2001 giữa bà Â, cụ T và ông Nguyễn Nam H vô hiệu và yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bị đơn ông Nguyễn Nam H quá trình tố tụng giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm ông H vắng mặt không lý do.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện:

Giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 do nguyên đơn cung cấp được bà Hồ Thị T, ông Nguyễn Nam H ký tên, ghi rõ họ tên và cán bộ địa chính xã ký xác nhận cũng như có xác nhận đóng dấu của Ủy ban nhân dân xã T ngày 25/5/2001 nội dung ông Nguyễn Nam H có sang nhượng cho bà Â diện tích đất bưng là 18.000m², trong diện tích đất có 01 cái nhà ở với số tiền là 60.000.000 đồng. Theo đó, giấy sang nhượng không thể hiện tứ cận diện tích đất địa chỉ, nhưng các bên đều thừa nhận đất thuộc thửa số 03 tờ bản đồ số 03 tại ấp Đ, xã T, huyện D. Tại thời điểm chuyển nhượng phần đất này cụ T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoài ra nguyên đơn còn cung cấp: giấy vằn cọc ngày 23/3/2001, giấy chịu trách nhiệm trả tiền vay ngày 05/5/2001, tất cả đều có chữ ký của cụ T, ông H, bà Â ký tên xác nhận đã nhận đủ 60.000.000 đồng.

Căn cứ vào Bản án phúc thẩm số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã có hiệu lực pháp luật, các bên đã thực hiện và thi hành án xong bản án trên theo biên bản giao nhận tài sản do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng lập. Bản án phúc thẩm nhận định: đối với phần đất tranh chấp được xác định là do cụ T và cụ L khai phá, tài sản trên đất là nhà của hai cụ xây dựng nên nhà và quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai cụ, cụ L chết năm 1984 không để lại di chúc nên ½ diện tích đất và tài sản trên đất là di sản của cụ L để lại sẽ được phân chia cho các đồng thừa kế của cụ L. Việc cụ T, bà Â, ông H chuyển nhượng đất ngày 25/3/2001 cho bà Â mà không có tất cả các đồng thừa kế của cụ L ký tên là không đúng theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, khi bị đơn chuyển nhượng đất cho nguyên đơn thì đất chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, việc cụ T, bà Â, ông H giao kết ký hợp đồng chuyển nhượng là bị vô hiệu theo quy định tại Điều 131, 137, 139 Bộ luật Dân sự và theo hướng dẫn tại tiểu mục 2 mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Quá trình giải quyết vụ án này, các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Do đó, cần tách việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trịnh Thị Â với bà Hồ Thị T để giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Xét: chứng cứ giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 đã vi phạm Điều 117, 131, 237, 706, 707 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 31 Luật Đất đai năm 1993 đã được Bản án số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nhận định vô hiệu. Ngoài ra, diện tích đất 9.128m² đo đạc thực

tế 8.861,5m² là đối tượng các bên chuyển nhượng ngày 25/3/2001 được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết chia tài sản chung, chia thừa kế theo Bản án số 143 ngày 06/7/2022 và các bên đã thi hành xong ngày 15/12/2022.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng theo giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 vô hiệu theo đúng nhận định của Bản án 143 ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, yêu cầu xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn bà Â và cụ T là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

Theo quy định tại Điều 146 Bộ luật Dân sự năm 1995 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nguyên đơn có trách nhiệm trả lại đất cho cụ T, ông H. Cụ T, ông H có trách nhiệm trả lại tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại giá trị đất chênh lệch cho nguyên đơn nếu có. Đối với phần đất tranh chấp đã được giải quyết bằng Bản án số 143 ngày 06/7/2022 đã có hiệu lực pháp luật, các đương sự đã thi hành, nguyên đơn đã giao tài sản cho bị đơn xong theo biên bản ngày 15/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.

Tại phiên toà sơ thẩm đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng Giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 thì bà Trịnh Thị Â và ông Nguyễn Nam H ký giấy sang nhượng, còn cụ T là người ký tên với tư cách nhân chứng cho nên cụ T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, phải thanh toán toàn bộ giá trị diện tích đất 9.128m², theo kết quả thẩm định giá 1.544.000 đồng/m², việc chuyển nhượng đất ngày 25/3/2001 bà Â giao cho ông H số tiền 60.000.000 đồng, cụ T hoàn toàn không biết cho nên cụ T không có liên quan. Lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu là lỗi của bà Â và ông H, cụ T không có lỗi cho nên không liên quan đến việc phải thanh toán giá trị cho bà Â khi hợp đồng bị vô hiệu.

Xét thấy: Căn cứ vào hồ sơ chứng cứ thể hiện: cụ T trình bày trong các bản án năm 2009, 2021, 2022 đã được Toà án các cấp xét xử có hiệu lực pháp luật và đã thực hiện các bản án này, nội dung trong các vụ án trên thì cụ T đều thừa nhận cụ T cùng với con là ông Nguyễn Nam H ký tên Giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001 cho bà Trịnh Thị Â và tại Biên bản hoà giải ngày 04/10/2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện D thể hiện nội dung: cụ T, ông H đồng ý trả lại phần đất diện tích 9.128m² (đo đạc thực tế 8.861,5m²) thuộc thửa đất số 03 cho bà Â. Sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét lời trình bày của đại diện hợp pháp của bị đơn cho rằng cụ T chỉ ký tên người làm chứng, không có liên quan, trách nhiệm gì với bà Â, ông H là không phù hợp. Do đó, bà Â yêu cầu cụ T, ông H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán giá trị toàn bộ quyền sử dụng đất bằng tiền cho nguyên đơn là phù hợp với tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Quá trình tố tụng giải quyết vụ án nguyên đơn xác định chỉ tranh chấp phần đất diện tích 9.128m² (đo đạc thực tế 8.861,5m²) và nguyên đơn chỉ yêu cầu giải quyết đối với diện tích 8.861,5m², đối với diện tích giảm 266,5m² nguyên đơn rút yêu cầu và được Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại thời điểm năm 2001 các bên chuyển nhượng phần đất diện tích 9.128m² có giá trị 30.426.000 đồng (60.000.000 đồng :18.000m²). Cụ T, ông H có trách nhiệm liên đới trả lại cho bà Â số tiền: 30.426.000 đồng.

Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc cụ T, ông H có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại toàn bộ giá trị đất 1.544.000 đồng/m². Nguyên đơn xác định việc không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất và bị vô hiệu là lỗi do cụ T và ông H bởi vì nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn làm thủ tục sang tên nhưng không thực hiện.

Xét về lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu:

Các bị đơn đã có lỗi khi chuyển nhượng cho bà Â, đã không cho các thành viên khác trong hộ biết việc chuyển nhượng. Tại thời điểm ký Giấy sang nhượng đất ngày 25/3/2001, đất chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên sau khi ký Giấy sang nhượng đất cụ T, ông H đã giao đất cho nguyên đơn sử dụng. Đối với nguyên đơn cũng có lỗi biết diện tích đất chuyển nhượng cho nguyên đơn thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình cụ T, cụ L nhưng chỉ có cụ T, ông H ký Giấy sang nhượng đất và khi giao tiền cho cụ T, ông H đều không có ý kiến các thành viên khác trong gia đình. Bà Â đã nhận đất và sử dụng nhưng không yêu cầu bị đơn làm thủ tục sang tên nhưng nguyên đơn không có ý kiến và không tranh chấp để bảo vệ quyền lợi cho mình. Bà Â cho rằng bà Â chỉ có lỗi quá thương, quá tin tưởng mẹ là cụ T nên mới xảy ra tranh chấp như hôm nay. Đối với các ý kiến của nguyên đơn cho rằng do tin tưởng trong gia đình nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không thực hiện đúng theo quy định pháp luật về đất đai là không phù hợp.

Xét, lỗi trong trường hợp này làm cho hợp đồng vô hiệu là của bà Â, cụ T, ông H là như nhau, mỗi bên có ½ lỗi nên bà Â và cụ T, ông H phải chịu 50% giá trị thiệt hại. Nguyên đơn đã giao đủ 60.000.000 đồng, các bị đơn đã giao đất cho bà Â quản lý, sử dụng và bà Â có thời gian quản lý, giữ gìn, cải tạo đất. Ngoài ra, nguyên đơn đã bàn giao đất theo Bản án phúc thẩm số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và đã được Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng thi hành án ngày 15/12/2022. Do đó, cụ T, ông H phải bồi thường 60% khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất, đây là giá trị thiệt hại mà nguyên đơn được nhận bồi thường.

Đối với toàn bộ tài sản trên đất đã được giải quyết theo Bản án phúc thẩm số 143/2022/DS-PT ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương nên không đặt ra xem xét. Tại cấp phúc thẩm các đương sự không yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp mà yêu cầu căn cứ vào kết quả thẩm định giá của Công ty L1 ngày 24/4/2023 cụ thể: đơn giá 1.544.000 đồng/m² x 8.861,5m² = 13.682.156.000 đồng.

Khoản chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất của hợp đồng là 13.682.156.000 đồng – 30.426.000 đồng = 13.651.730.000 đồng.

Cụ T, ông H có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bà Â 60% số tiền chênh lệch giá trị là: 13.651.730.000 đồng x 60% = 8.191.038.000 đồng (tám tỷ một trăm chín mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Theo Bản án phúc thẩm số 143/2022/DS-ST ngày 06/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thì cụ T được chia phần đất có diện tích 6.390m², còn ông H được chia phần đất có diện tích là 912,4m² nhưng ông H đã giao cho bà Â phần đất diện tích 912,4m² này nên ông H đã thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình, phần đất có giá trị bằng tiền là:

912,4m² x 1.544.000 đồng/m²= 1.408.745.600 đồng.

Do vậy ông H không phải chịu trách nhiệm trả số tiền 1.408.745.600 đồng (một tỷ bốn trăm lẻ tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) cho bà Â nữa. Do ông H đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán bằng phần đất có giá trị tiền 1.408.745.600 đồng nên cụ T cũng phải có trách nhiệm thanh toán bằng số tiền 1.408.745.600 đồng (một tỷ bốn trăm lẻ tám triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) cho bà Â như ông H. Sau khi thực hiện nghĩa vụ riêng thì ông H và cụ T còn phải có trách nhiệm liên đới thanh toán tiền thiệt hại cho bà Â là: 8.191.038.000 đồng – (1.408.745.600 đồng + 1.408.745.600 đồng) = 5.373.546.800 đồng (năm tỷ ba trăm bảy mươi ba triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn tám trăm đồng).

Tổng số tiền cụ T, ông H phải liên đới thanh toán cho bà Â là: 5.373.546.800 đồng + 30.426.000 đồng = 5.403.972.800 đồng (năm tỷ bốn trăm lẻ ba triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm đồng).

[3] Từ những phân tích trên với các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án Toà án cấp sơ thẩm xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại cấp phúc thẩm người kháng cáo không có chứng cứ mới làm thay đổi nội dung của vụ án nên không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa phúc thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Trịnh Thị Â phải chịu theo quy định của pháp luật, bị đơn bà Hồ Thị T được miễn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trịnh Thị Â và bị đơn bà Hồ Thị T.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2023/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
  3. Về án phí phúc thẩm:
  4. Nguyên đơn bà Trịnh Thị Â phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0002467 ngày 14/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

    Bị đơn bà Hồ Thị T được miễn án phí phúc thẩm.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Dầu Tiếng;
  • - TAND huyện Dầu Tiếng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 352/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu

  • Số bản án: 352/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án ST
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger