|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 352 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2024. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Mai Hoa |
| Các Hội thẩm nhân dân. | Ông Nguyễn Văn Hoàn |
| Bà Nguyễn Thị Tuyết |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 387/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 435/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 276/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị V, sinh năm 1983,
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- - Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1975,
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Nơi ở hiện nay: Hàn Quốc.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị P, sinh năm 1954,
- địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Chị V, anh H và bà P đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Lê Thị V trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương ngày 25/12/2006. Sau khi kết hôn, chị chuyển về nhà anh H sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Năm 2011, anh H làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Sang Hàn Quốc vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, vẫn trao đổi với nhau về cuộc sống. Đến cuối năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, định hướng tương lai khác nhau. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng vợ chồng không thể hàn gắn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
- - Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Trần Thảo N, sinh ngày 20/8/2008 và Trần Minh Q, sinh ngày 20/8/2008. Vợ chồng thống nhất thỏa thuận ly hôn anh H sẽ nuôi dưỡng cả hai con chung, việc cấp dưỡng vợ chồng chị tự thỏa thuận. Trong thời gian anh H không có nhà, tạm giao cháu N, cháu M cho bà Đào Thị P là mẹ đẻ của anh H chăm sóc cho đến khi anh H về nước.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị P (mẹ đẻ anh Trần Văn H) trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V, anh Huỳnh n chị V trình bày là đúng. Hiện nay, anh H đang làm việc tại Hàn Quốc, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo cho anh H biết về việc chị V có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của anh H nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị V. Về con chung, anh H có quan điểm khi ly hôn anh đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung Trần Thảo N, sinh ngày 20/8/2008 và Trần Minh Q, sinh ngày 20/8/2008. Anh H, chị V tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Anh H đang ở nước ngoài nên nhờ bà chăm sóc các con chung cho đến khi anh H về nước, bà nhất trí. Anh H xác định không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Hiện nay anh H đang đi làm xa, các văn bản Tòa án gửi cho anh H đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh H.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị V và có quan điểm xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P có quan điểm xin vắng mặt.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Lê Thị V được ly hôn anh Trần Văn H; Giao cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Thảo N, sinh ngày 20/8/2008 và Trần Minh Q, sinh ngày 20/8/2008 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu N, cháu Q cho bà Đào Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không ở Việt Nam; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị V phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Lê Thị V có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Trần Văn H. Anh Huỳnh h đều đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị V không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị V và gia đình anh H cung cấp địa chỉ nhưng chị V nhưng không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh H có liên lạc về gia đình, gia đình anh H không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị V, bà P đều có quan điểm xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị V, anh H và bà P.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V và anh Trần Văn H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương vào ngày 25/12/2006 là hôn nhân hợp pháp. Năm 2011, anh H đi lao động ở Hàn Quốc đến nay chưa về nước nên khi vợ chồng liên lạc thường xuyên nảy sinh những cãi vã, bất đồng. Mặc dù, vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên bảo nhưng không có kết quả. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh H và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh H có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị V. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị V, anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị V được ly hôn anh H là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị V và anh H có 02 con chung Trần Thảo N, sinh ngày 20/8/2008 và Trần Minh Q, sinh ngày 20/8/2008. Ly hôn vợ chồng thống nhất để anh H được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, các con chung của chị V và anh H đang sinh sống cùng gia đình anh H và đều có nguyện vọng được ở cùng bố. Để ổn định cuộc sống của con chung cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị V và anh H. Giao các con chung cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H đang ở nước ngoài không trực tiếp chăm sóc con chung đã nhờ bà Đào Thị P là mẹ đẻ anh H chăm sóc con chung, bà P và chị V đều nhất trí. Do đó, tạm giao cháu N, cháu Q cho bà Đào Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không ở Việt Nam.
Chị Lê Thị V được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị V được ly hôn anh Trần Văn H.
- Về con chung: Giao anh Trần Văn H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Thảo N, sinh ngày 20/8/2008 và Trần Minh Q, sinh ngày 20/8/2008 thời gian từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung trưởng thành. Về tiền cấp dưỡng nuôi con các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000869 ngày 16/7/2024 (chị V đã nộp đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị V, bà P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
Tạm giao cháu Trần Thảo N, Trần Quang M1 cho bà Đào Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh H không ở Việt Nam.
Chị Lê Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 352 /2024/HNGĐ-ST ngày 08/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 352 /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị V xin ly hôn Trần Văn H và giải quyết việc nuôi dưỡng con chung
