|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 352/2025/DS-PT
Ngày 27-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huỳnh
Các Thẩm phán: Ông Bùi Ngọc Thạch
Bà Trần Thị Thắm
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Ông Trần Đức Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 211/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và kiện đòi tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1979; địa chỉ: số C, đường Đ, tổ C, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Lê Hữu T, sinh năm 1981, địa chỉ liên hệ: số D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 06/9/2024), có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1983; địa chỉ thường trú: số D, đường L, tổ B, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số D, đường L, tổ B, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích H.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/9/2024, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Bích H và người đại diện hợp pháp nguyên đơn ông Lê Hữu T trình bày:
Bà Lê Thị Bích H và ông Nguyễn Đình P có mối quan hệ quen biết. Khoảng cuối năm 2020 đầu năm 2021, ông P nói cần tiền đầu tư nhà đất và hỏi vay tiền của bà H, ông P hứa khi nào bán đất thì sẽ trả tiền hoa hồng cho bà H. Ngày 08/10/2021, bà H cho ông P vay số tiền 530.000.000 đồng (vay tiền mặt), hai bên ký hợp đồng vay tiền theo Hợp đồng công chứng số 3646 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Thời hạn vay 03 tháng, thời hạn trả nợ ngày 09/01/2022. Số tiền này hiện nay ông P chưa trả cho bà H.
Ông P đưa ra nhiều lý do hỏi vay tiền của bà H để đầu tư, do tin tưởng nên từ đầu năm 2021 đến tháng 8/2022 bà H nhiều lần chuyển tiền cho ông P vay đến tài khoản số [...] của ông Nguyễn Đình P tại Ngân hàng S, tổng số tiền 574.037.400 đồng, cụ thể: ngày 20/01/2021 chuyển 5.007.700 đồng; ngày 28/01/2021 chuyển 5.007.700 đồng; ngày 14/02/2021 chuyển 20.011.000 đồng; ngày 29/03/2021 chuyển 16.011.000 đồng; ngày 20/04/2021 chuyển 30.000.000 đồng; ngày 30/04/2021 chuyển 8.000.000 đồng; ngày 16/05/2021 chuyển 5.000.000 đồng; ngày 14/6/2021 chuyển 30.000.000 đồng; ngày 05/7/2021 chuyển 50.000.000 đồng; ngày 20/10/2021 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 29/05/2022 chuyển 50.000.000 đồng; ngày 06/6/2022 chuyển 5.000.000 đồng; ngày 07/7/2022 chuyển 100.000.000 đồng; ngày 21/7/2022 chuyển 20.000.000 đồng; ngày 30/7/2022 chuyển 100.000.000 đồng; ngày 05/8/2022 chuyển 20.000.000 đồng; ngày 31/8/2022 chuyển 100.000.000 đồng. Bà H đã nhiều lần liên lạc yêu cầu trả tiền nhưng ông P tránh mặt, không nghe điện thoại, không trả nợ nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Đình P trả cho bà Lê Thị Bích H tổng số tiền 1.301.315.200 đồng (một tỷ ba trăm lẻ một triệu ba trăm mười lăm nghìn hai trăm đồng), trong đó: tiền gốc 1.159.038.400 đồng (một tỷ một trăm năm mươi chín triệu không trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm đồng), tiền lãi 142.276.800 đồng (một trăm bốn mươi hai triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm đồng).
Ngày 26/10/2024, bà Lê Thị Bích H khởi kiện bổ sung buộc ông Nguyễn Đình P trả số tiền 300.065.780 đồng (ba trăm triệu không trăm sáu mươi năm nghìn bảy trăm tám mươi đồng), trong đó: tiền gốc 299.065.780 đồng (hai trăm chín mươi chín triệu không trăm sáu mươi năm nghìn bảy trăm tám mươi đồng) và tiền lãi 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Bà H chuyển khoản cho ông P vào ngày
3
11/11/2020 số tiền 99.021.780 đồng, ngày 13/12/2020 chuyển 100.022.000 đồng, ngày 30/12/2020 chuyển 100.022.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Hữu T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Nguyễn Đình P trả bà Lê Thị Bích H số tiền nợ gốc 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) theo Hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương, số công chứng số 3646.
- Buộc ông P trả bà H tiền lãi do vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự tạm tính từ ngày 09/01/2022 đến ngày 04/3/2025 là 36 tháng 24 ngày theo cách tính: 530.000.000 đồng x 0,833%/tháng = 161.736.566 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng).
- Buộc ông P trả bà H tiền nợ gốc vay đã nhận qua chuyển khoản 574.037.400 đồng (năm trăm bảy mươi bốn triệu không trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).
- Buộc ông P trả bà H số tiền gốc 299.065.780 đồng (hai trăm chín mươi chín triệu không trăm sáu mươi năm nghìn bảy trăm tám mươi đồng).
Tổng số tiền bà H yêu cầu ông P phải trả là 1.504.839.746 đồng (một tỷ năm trăm lẻ bốn triệu tám trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi sáu đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của số tiền gốc 574.037.400 đồng và rút yêu cầu trả tiền lãi 1.000.000 đồng (một triệu đồng) của số tiền gốc 299.065.780 đồng (hai trăm chín mươi chín triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi đồng).
Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Đình P trình bày: Ông P không đồng ý toàn bộ yêu cầu của bà H với lý do: Khoảng năm 2018, 2019 ông P và bà H làm chung ở sân G nên quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng, thời gian này ông P đã có vợ con nhưng vợ ông P về quê sinh con. Ông P thừa nhận ngày 08/10/2021 có ký Hợp đồng vay tiền số công chứng 3646 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương với bà H. Lý do ký hợp đồng vì ông P phát hiện bà H còn quen nhiều người đàn ông khác nên ông P chia tay và hứa trả cho bà H tổng số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) mà ông P nhiều lần mượn bà H từ năm 2020 trong đó có số tiền 99.021.780 đồng (chín mươi chín triệu không trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi đồng) đã nhận vào ngày 11/11/2020, số tiền 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận ngày 13/12/2020 và số tiền 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận ngày 30/12/2020.
Thực tế ngày 08/10/2021 bà H không giao tiền theo thỏa thuận trong Hợp đồng vay tiền cho ông P. Trong hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 ghi thời hạn
4
vay 03 tháng, sau 03 tháng ông P đã giao cho bà H 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng), ông P nhìn thấy bà H hủy bản chính Hợp đồng vay tiền số công chứng 3646 ngày 08/10/2021 nhưng hai bên không đến phòng công chứng yêu cầu hủy bản lưu. Bà H đã sử dụng bản lưu để khởi kiện ông P.
Đối với tổng số tiền 574.037.400 đồng (năm trăm bảy mươi tư triệu không trăm ba mươi bảy nghìn bốn trăm đồng) bà H khai chuyển vào tài khoản của ông P là tiền bà H chơi cá độ đá bóng, đánh số đề và đánh bạc thua nên chuyển khoản nhờ ông P trả tiền giúp hoặc bà H chuyển tiền vào tài khoản để ông P rút tiền mặt giao lại để bà H đánh bạc nên mới có sự việc nhiều lần chuyển khoản số tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngay khi bà H chuyển khoản, ông P rút tiền ra trả cho người chơi thắng hoặc giao lại cho bà H. Khi trả tiền giúp bà H, ông P không làm biên nhận.
Đối với tổng số tiền 299.065.780 đồng (hai trăm chín mươi chín triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi đồng) bà H nhiều lần chuyển cho ông P là phần hùn vốn để cùng làm quán cà phê chung, để mua những vật dụng cần thiết khi mở quán. Do có mâu thuẫn nên không mở quán chung, sau khi trừ những chi phí phải bỏ ra không thu hồi được, tiền còn lại ông P đã trả cho bà H. Số tiền 299.065.780 đồng đã được cộng gộp vào 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) ghi trong Hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 tại Văn phòng C. Nay bà H căn cứ vào số tiền và chứng từ chuyển khoản để yêu cầu ông P trả 99.021.780 đồng đã nhận vào ngày 11/11/2020, số tiền 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận ngày 13/12/2020 và số tiền 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận ngày 30/12/2020 ông P không đồng ý.
Tới thời điểm xét xử vụ án, ông P không còn nợ tiền bà H nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của bà H.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H đối với bị đơn ông Nguyễn Đình P về việc yêu cầu trả số tiền lãi 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H đối với bị đơn ông Nguyễn Đình P về việc kiện đòi tài sản.
Buộc ông Nguyễn Đình P có nghĩa vụ trả bà Lê Thị Bích H 813.103.180 đồng (tám trăm mười ba triệu một trăm lẻ ba nghìn một trăm tám mươi đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án đến khi thi hành xong bản án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền phải thi
5
hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H với bị đơn ông Nguyễn Đình P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với số tiền 691.736.566 đồng (sáu trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng) trong đó có 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) tiền gốc theo Hợp đồng vay tiền công chứng số 3646 ngày 08/10/2021 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương và 161.736.566 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng) tiền lãi.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về về án phí, về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/3/2025 nguyên đơn bà Lê Thị Bích H có đơn kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp nguyên đơn ông Lê Hữu T trình bày: Bà Lê Thị Bích H và ông Nguyễn Đình P có mối quan hệ quen biết. Ngày 08/10/2021 bà H cho ông P vay số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) (vay tiền mặt), hai bên ký hợp đồng vay tiền theo Hợp đồng công chứng số 3646 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương. Thời hạn vay là 03 tháng, thời hạn trả nợ ngày 09/01/2022. Tuy nhiên, đến nay ông P vẫn chưa trả cho bà H số tiền này. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H với bị đơn ông Nguyễn Đình P về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với số tiền 691.736.566 đồng (sáu trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng), bao gồm 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) tiền gốc theo Hợp đồng vay tiền công chứng số 3646 ngày 08/10/2021 tại Văn phòng C, tỉnh Bình Dương và 161.736.566 đồng tiền lãi (một trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng) là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông P phải trả số tiền 691.736.566 đồng (sáu trăm chín mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng) cho bà H.
Bị đơn ông Nguyễn Đình P trình bày: Ông P không đồng ý với nội dung kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
6
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý của người tham gia tố tụng của Tòa án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa nhận thấy ngày 08/10/202, bà H và ông P ký hợp đồng vay số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) (vay tiền mặt) được Văn phòng C, tỉnh Bình Dương công chứng số 3646. Thời hạn vay là 03 tháng, thời hạn trả nợ ngày 09/01/2022. Tại Điều 2 của Hợp đồng vay tiền nêu trên quy định: “Phương thức vay bằng hình thức tiền mặt. Các bên tự thỏa thuận khi giao, nhận tiền phải có biên nhận của hai bên”. Bà H trình bày là có giao tiền mặt một lần cho ông P tại quán cà phê nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Đồng thời, ông P không thừa nhận điều đó nên không có căn cứ xác định bà H đã giao tiền cho ông P theo Hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 hay chưa. Do đó, việc bà H kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là không có cơ sở để chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà H:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận bà H và ông P có ký hợp đồng vay tiền được Văn phòng C chứng thực 3646, số tiền thoả thuận vay là 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) (vay tiền mặt). Thời hạn vay là 03 tháng, thời hạn trả nợ ngày 09/01/2022. Tuy nhiên, bà H xác định đã giao cho ông P số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) trong ngày 08/10/2021 tại quán cà phê ngay sau khi ký Hợp đồng vay tiền, vì tin tưởng nên khi giao tiền không lập thành văn bản giao nhận, không có người làm chứng. Ông P không thừa nhận lời trình bày của bà H, ông P cho rằng số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) ghi trong Hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 là tiền bà H đã cho ông P mượn nhiều lần từ năm 2020 đến trước khi ký hợp đồng vay tiền trong đó có 99.021.780 đồng (chín mươi chín triệu không trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi đồng) nhận chuyển khoản ngày
7
11/11/2020, số tiền 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận chuyển khoản ngày 13/12/2020 và 100.022.000 đồng (một trăm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) nhận chuyển khoản 30/12/2020 nên bà H yêu cầu ông P đến Văn phòng C ký Hợp đồng vay tiền, vì vậy sau khi ký hợp đồng vay tiền bà H không giao tiền nên không có biên bản giao nhận tiền. Sau khi ký hợp đồng khoảng 03 tháng ông P đã trả hết tiền cho bà H.
[2.2] Theo thoả thuận tại Điều 2 Hợp đồng vay tiền ngày 08/10/2021 quy định: “Phương thức vay bằng hình thức tiền mặt. Các bên tự thỏa thuận khi giao, nhận tiền phải có biên nhận của hai bên”. Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm bà H không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông P có nhận số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) theo hợp đồng vay tiền đã được công chứng, chứng thực nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà H về việc buộc ông P phải trả số tiền 530.000.000 đồng (năm trăm ba mươi triệu đồng) và tiền lãi 161.736.566 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng). Do đó, yêu cầu kháng cáo của bà H là không có cơ sở chấp nhận. Các phần khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà H là phù hợp.
[4] Án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 144; khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 166, 280, 357, 429, 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Bích H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2025/DS-ST ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0001586 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Huỳnh |
Bản án số 352/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 352/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên BAST
