|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 352/2024/HS-ST Ngày: 24/7/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Nam
- Bà Đặng Thị Huệ Tú
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 443/2024/HSST, ngày 11/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 842/2024/QĐXXST-HS ngày 11/6/2024. Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; điểm cầu thành phần là phòng xử án tại Trại tạm giam Chí Hòa (T30) – Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với các bị cáo:
- Phan Thụy Cẩm T, sinh ngày 11/4/1994; tại T; Đăng ký HKTT: Ấp Long B, xã Long H, huyện C, tỉnh T; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: phật giáo; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị Kim Tr; có chồng tên Trân Bửu K, sinh năm 2001 (là bị cáo chung vụ án); 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 10/10/2023 (có mặt).
- Trần Bửu K, Sinh ngày: 20/02/2001; tại Thành phố C; Đăng ký HKTT: ấp Tân T, xã Nhơn N, huyện P, Thành phố C; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Tuấn A và bà Lê Thị Ngọc C; có vợ tên Phan Thụy Cẩm T, sinh năm 1994 (bị cáo chung vụ án); có 01 người con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt, tạm giam ngày 11/3/2024 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 50 phút, ngày 09/5/2021, Công an Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính căn hộ L1-41 V (số 720 Điện Biên P, Phường A, quận B). Tại thời điểm kiểm tra, có mặt các đối tượng: Trần Bửu K, Phan Thụy Cẩm T, Đặng Văn Đ và Cindy. Kết quả kiểm tra phát hiện, thu giữ trong phòng ngủ thứ 2, trên kệ tivi có 01 gói nylon vuốt mép chứa 03 viên nén (gồm 02 viên nén màu cam và 01 viên nén màu xanh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,0337g loại MDMA và 01 loa màu đen hiệu JBL; 01 ly thủy tinh, 01 muỗng kim loại, 01 túi giấy màu nâu hình vuông có quai xách trên có ghi chữ "Kiehl's".
Mở rộng điều tra, vào lúc 23 giờ 15 phút, ngày 10/5/2021, tại khu vực trước sảnh 1 V, đường Nguyễn Hữu C, quận B; Công an quận B bắt quả tang Trần Duy T và Hà Thị Mỹ Tr đang đi giao ma túy; qua kiểm tra thu giữ của Tr ma túy có khối lượng 1,1486g, loại Ketamine và 1,0324g, loại MDMA. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Duy T, không thu giữ vật chứng liên quan đến ma túy.
Tất cả số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại các bản kết luận giám định số 3091/KLGĐ-H ngày 18/5/2021 và số 3122/KLGĐ-H ngày 18/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả điều tra, Trần Duy T, Hà Thị Mỹ Tr, Đặng Văn Đ, Cindy và Phan Thụy Cẩm T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã thu thập. Đến ngày 27/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận điều tra vụ án số 279-29, đề nghị truy tố đối với Trần Duy T, Hà Thị Mỹ Tr, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đặng Văn Đ, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Cindy, về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có Cáo trạng số 293/CTr-VKS-P1, truy tố các bị can nêu trên đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử theo quy định.
Ngày 08/9/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án và Bản án số 442/2023/HS-ST, tuyên phạt Trần Duy T 07 năm tù và Hà Thị Mỹ Tr 02 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đặng Văn Đ 08 năm tù, về 02 tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Cindy 07 năm tù, về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
Riêng Phan Thụy Cẩm T, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định khởi tố bị can số 731-50 ngày 20/4/2023 tại thời điểm này Tiên đã xuất cảnh đi khỏi Việt Nam, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết
định truy nã đối với Phan Thụy Cẩm T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự với vai trò đồng phạm với Đặng Văn Đ. Đến ngày 09/10/2023, Phan Thụy Cẩm T nhập cảnh về Việt Nam và đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Căn cứ kết quả điều tra, lời khai của Phan Thụy Cẩm T và Trần Bửu K phù hợp nhau về việc sử dụng ma túy vào ngày 09/5/2021, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định khởi tố bị can số 311/QĐ-CSMT-Đ3 ngày 08/3/2024, đối với Trần Bửu K, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Phan Thụy Cẩm T và Trần Bửu K đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Phan Thụy Cẩm T: Quen biết với Đ và Cindy, vào giữa năm 2020. Đến khoảng 17 giờ ngày 09/5/2021, Đ sử dụng mạng xã hội Zalo tên tài khoản “Đặng Đ” nhắn tin với Phan Thụy Cẩm T tên tài khoản “S S” rủ đến căn hộ L1-V (căn hộ Đ ở cùng Cindy) để sử dụng ma túy, T nói đi chung với Trần Bửu K, Đ đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T và K đến sảnh căn hộ, thì Đ xuống sảnh đón và nhận được cuộc gọi số 0799.360.3xx của Trần Duy T đến giao ma túy. Đ đưa điện thoại cho T nhờ T lấy đồ giúp (Đ không nói rõ cho T biết đó là ma túy). Sau khi nhờ T nhận túi giấy có chứa ma túy và đem lên căn hộ L1-. Khi lên đến căn hộ thì Cindy đang nấu ăn và tại phòng khách, T tự mở túi giấy thấy có 04 viên thuốc lắc (02 viên màu xanh và 02 viên màu cam) và đưa cho Đ xem, Đ gật đầu xác nhận. Sau đó, T đem túi ma túy này vào phòng ngủ thứ 2 và qua phòng của Đ rủ cùng sử dụng nhưng Đ nói mệt nên nói mọi người cứ “chơi” trước đi, Đ sử dụng sau. Lúc này, K đi từ phòng vệ sinh ra, Đ nói K lấy 01 viên thuốc lắc cà nhuyễn cho mọi người sử dụng. Một lúc sau, Đ qua phòng ngủ thứ 2 thấy T, K và Cindy đang ở trong phòng nghe nhạc (lúc này Đ biết mọi người đã sử dụng thuốc lắc) và thấy dưới sàn nhà còn 01 mãnh vụn thuốc lắc nên Đ lấy sử dụng hết rồi cùng nghe nhạc với T, K, Cindy, đến khoảng 22 giờ 00 phút thì Đ và Cindy về phòng ngủ của mình, còn T và K ở ngủ tại phòng thứ 2. Khoảng 23 giờ 50 phút, Công an kiểm tra và phát hiện thu giữ 03 viên thuốc lắc còn lại có khối lượng 1,1486g loại Ketamine trên kệ ti vi tại phòng của T như trên.
Trần Bửu K khai nhận phù hợp với lời khai của Phan Thụy Cẩm T, vào 09/5/2021, K được T rủ qua nhà Đ chơi, K đồng ý. Khi lên nhà Đ, K biết trong túi giấy T nhận và cầm giúp Đ lên nhà có 04 viên thuốc lắc. Sau đó, theo yêu cầu của Đ, Kỳ lấy 01 viên thuốc lắc cà nhuyễn pha với nước ngọt để sử dụng chung với T và Cindy, còn lại 01 mãnh vụn và 03 viên thuốc lắc K bỏ lại trên sàn nhà và sau đó Đ sử dụng mãnh vụn ma túy. Sau khi sử dụng ma túy cùng T, Cindy thì K nằm ở góc phòng và không biết 03 viên thuốc lắc còn lại ai đã cất lên trên kệ ti vi. Đến khoảng 23 giờ 50 phút, cùng ngày Công an kiểm tra và phát hiện như trên.
Về nguồn gốc của 03 viên thuốc lắc bị thu giữ trên kệ tivi đặt tại phòng ngủ số 2, K khai đây là 03 viên thuốc lắc còn lại trong số 04 viên thuốc lắc Đ nói K cà nhuyễn để sử dụng với T và C, còn nguồn gốc của số thuốc lắc thì KV không biết (phù hợp với lời khai của T). Kết quả điều tra đến nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định Trần Bửu K liên quan đến việc cất giữ 03 viên thuốc lắc còn lại, nên chưa đủ căn cứ xử lý đối với Trần Bửu K với vai trò đồng phạm với Đặng Văn Đ và Phan Thụy Cẩm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả điều tra, lời khai của Đặng Văn Đ, Cindy phù hợp với lời khai của Phan Thụy Cẩm T và Trần Bửu K về việc cùng nhau sử dụng ma túy vào ngày 09/5/2021 tại căn hộ L1 V, quận B và bị Công an quận B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
* Vật chứng vụ án:
+ Thu giữ của Phan Thụy Cẩm T:
- - 01 Chứng minh nhân dân số 312268xxx và 01 thẻ căn cước công dân số [...]xxx.
Tại bản Cáo trạng số 190/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 21/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Thụy Cẩm T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Trần Bửu K, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phan Thụy Cẩm T, Trần Bửu K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo thừa nhận việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng, không oan sai.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Thụy Cẩm T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Trần Bửu K, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Phan Thụy Cẩm Ttừ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Trần Bửu K từ 07 đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Trả lại 01 chứng minh nhân dân và một thẻ căn cước công dân cho bị cáo Phan Thụy Cẩm T.
Các bị cáo không tranh luận.
Trong phần nói lời sau cùng, các bị cáo Phan Thụy Cẩm T, Trần Bửu K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Phan Thụy Cẩm T, Trần Bửu K không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay các bị cáo Phan Thụy Cẩm T, Trần Bửu K đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 09/5/2021, Phan Thụy Cẩm T được Đặng Văn Đ rủ đến nhà tại căn hộ L1 V, số 720 Điện Biên P, Phường A, quận B để sử dụng ma túy, khi đến nơi T đã giúp sức cho Đ nhận ma túy mang lên căn hộ để T, K, Đ và Cindy cùng sử dụng ma túy và T là người mang ma túy vào phòng ngủ thứ 2 để Trần Bửu K theo yêu cầu của Đ, lấy 01 viên thuốc lắc cà nhuyễn pha với nước ngọt để sử dụng chung với T và Cindy. Sau khi cả nhóm sử dụng ma túy còn lại 03 viên thuốc lắc, khối lượng 1,0337g loại MDMA T cất giữ để tại phòng ngủ số 2 của mình cho đến khi Công an quận B kiểm tra phát hiện thu giữ.
Như vậy, với hành vi nêu trên của bị cáo Phan Thụy Cẩm T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản
1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Bửu K đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Đối với 02 người trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Phan Thụy Cẩm T, Trần Bửu K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội. Các bị cáo biết rõ ma túy là loại biệt dược độc hại, đã, đang và sẽ hủy hoại cả về thể chất lẫn tinh thần của những người nghiện hút, do đó nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán và vận chuyển, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và quy định trừng phạt nghiêm khắc với những ai cố tình vi phạm. Các bị cáo đều là người trên 18 tuổi và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[3] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo T đã ra đầu thú, các bị cáo là vợ chồng và cùng là bị cáo trong vụ án, có con còn nhỏ phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đặng Văn Đ nên xét có thể áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo.
Do hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng, căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Thu giữ của Phan Thụy Cẩm T 01 Chứng minh nhân dân số 312268xxx và 01 thẻ căn cước công dân số [...]xxx xét đây là giấy tờ tùy nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phan Thụy Cẩm T 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Bửu K 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tình từ ngày 11/3/2024.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Trả lại cho bị cáo Phan Thụy Cẩm T: 01 Chứng minh nhân dân số [...] và 01 thẻ căn cước công dân số [...]xxx.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/360 ngày 04/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |
Bản án số 352/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 352/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thụy Cẩm T và đồng phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy
