TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 352/2024/HS-PT Ngày: 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Tấn Long
ông Phạm Văn Hợp
- Thư ký phiên tòa: ông Lương Quang Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1264/2024/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024.
1. Bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Thu H, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1995 tại tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; nơi ở trước khi bị bắt (thuê trọ): phòng 12, số E T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Trần Đình H1 và con bà Phùng Thị Thu H2; có chồng tên là Phạm Đình C (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06 tháng 04 năm 2023, có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Thu H:
Luật sư Nguyễn Thanh S - Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ, có mặt tại phiên toà.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo:
Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ C, thôn B, xã B, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung được tóm tắt như sau:
Năm 2019, Trần Thị Thu H quen biết với anh Nguyễn Văn H3 (sinh năm1986, trú: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam). Quá trình quen biết, H nói với anh H3 là H có nhiều mối quan hệ quen biết với cán bộ là lãnh đạo thành phố, có khả năng làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Nghe H nói vậy, nên anh H3 đã giới thiệu anh Nguyễn Tấn Q (sinh năm 1979, là người đồng hương, làm việc cùng công ty anh H3) cho H. Ngày 04 tháng 01 năm 2022, tại quán cà phê trên đường N, phường H, quận L, anh H3 dẫn anh Q đến gặp H để nhờ làm GCNQSDĐ đối với các thửa đất mà anh Q đã mua trước đó nhưng chưa làm được giấy tờ. Thời gian này, Trần Thị Thu H cần tiền trả nợ nên dù không có khả năng làm GCNQSDĐ, nhưng H vẫn nhận lời làm GCNQSDĐ cho anh Q để chiếm đoạt tiền, cụ thể:
Lần thứ nhất:
ngày 04 tháng 01 năm 2022, sau khi gặp nói chuyện với H, anh Q đã đưa cho H 01 bộ hồ sơ viết tay (hồ sơ ba lá) thửa đất số 783, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: tổ A Đ, phường H, quận L, diện tích 100m² để nhờ H làm GCNQSDĐ. H nói chi phí làm GCNQSDĐ là 400.000.000 đồng, anh Q đồng ý. Từ ngày 06 tháng 01 năm 2022 đến ngày 11 tháng 02 năm 2022, anh Q đã 03 lần chuyển khoản cho H với số tiền 310.000.000 đồng. Sau đó, H đã tìm kiếm thông tin từ mạng xã hội và gặp 01 người đàn ông tên K (không rõ lý lịch, địa chỉ) đặt làm giả GCNQSDĐ. Ngày 19 tháng 02 năm 2022, H đã giao cho anh Q 01 GCNQSDĐ số CP 580205 cấp ngày 10 tháng 02 năm 2022 đối với thửa đất số 783, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: tổ A Đ, phường H, quận L, diện tích 100m². Ngày 24 tháng 02 năm 2022, anh Q tiếp tục chuyển khoản cho H số tiền 90.000.000 đồng là số tiền còn lại.
Lần thứ hai:
đầu tháng 5 năm 2022, anh Q giao tiếp cho H 01 hồ sơ viết tay (hồ sơ ba lá) để nhờ làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 173, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: khối Q, phường H, quận L, diện tích 200m². H nói chi phí làm GCNQSDĐ là 580.000.000 đồng, anh Q đồng ý. Sau đó, H liên lạc với người tên K (không rõ lý lịch, địa chỉ) đặt làm giả 02 GCNQSDĐ. Khoảng cuối tháng 5 năm 2022, H giao cho anh Q 02 GCNQSDĐ cùng số CP 580587 cấp ngày 20 tháng 5 năm 2022 đối với thửa đất số 173, tờ bản đồ số 4, địa chỉ: khối Q, phường H, quận L, diện tích mỗi thửa đất là 98m². Từ ngày 05 tháng 5 năm 2022 đến ngày 13 tháng 5 năm 2022, anh Q nhiều lần chuyển khoản cho H số tiền nêu trên.
Lần thứ ba:
sau khi giao GCNQSDĐ số CP 580205 (đối với thửa đất số 783) và 02 GCNQSDĐ cùng số CP580587 (đối với thửa đất số 173) cho anh Q, H tiếp tục đưa thông tin gian dối là những thửa đất của anh Q thuộc vùng đất quy hoạch, anh Q nên làm thủ tục xin tách thửa và xin đổi đất ở những vị trí đẹp ở đường lớn, chi phí 600.000.000 đồng, anh Q tin tưởng nên đồng ý. Ngày 26 tháng 5 năm 2022, H đã viết Bản cam kết với nội dung “Trần Thị Thu H-sinh 29/01/1990 xác nhận có thay mặt ông Nguyễn Tấn Q sinh 01/09/1979. Trao đổi đất với diện tích 200m² đổi đất 230m² Lê Đại H4 chia ra 2 lô (1 lô 130m² và 1 lô 100m²) mang tên ông Q".
Cuối tháng 5 năm 2022, H giao cho anh Q 04 GCNQSDĐ cùng số CP 580587 cấp ngày 26 tháng 5 năm 2022, diện tích mỗi thửa 50m² (đối với thửa đất số 783), 02 quyết định giao đất cùng số 2031 ngày 22 tháng 5 năm 2022 với nội dung: "Giao đất cho ông Nguyễn Tấn Q và bà Nguyễn Thị Huỳnh U với tổng diện tích 100m² được tách đôi, mỗi quyền sử dụng đất là 50m² và 50m² thuộc bản đồ số 213 tại đường B, phường K-quận C-thànhphố Đà Nẵng"; "Giao đất cho ông Nguyễn Tấn Q và bà Nguyễn Thị Huỳnh U với tổng diện tích 230m² được tách đôi mỗi quyền sử dụng đất là 130m² và 100m² thuộc bản đồ số 7 tại đường L, phường K-quận C-thành phố Đà Nẵng".
Khi anh Q nhận các quyết định giao đất phát hiện tên vợ bị sai, nên nói lại với H. Cuối tháng 6 năm 2022, H giao lại cho anh Q 03 quyết định (bản photo): 02 Quyết định cùng số 2031 ngày 22 tháng 5 năm 2022 cùng nội dung nêu trên, chỉ đổi tên Nguyễn Thị Huỳnh U thành Nguyễn Thị Huỳnh Y và 01 Quyết định số 3034 ngày 20 tháng 6 năm 2022 có nội dung "Giao đất cho ông Nguyễn Tấn Q với tổng diện tích 94m² thuộc bản đồ số 134 đường N tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng".
Từ ngày 26 tháng 5 năm 2022 đến ngày 11 tháng 8 năm 2022, anh Q đã chuyển khoản cho H đủ số tiền 600.000.000 đồng.
Toàn bộ số tiền chiếm đoạt 1.580.000.000 đồng, Trần Thị Thu H sử dụng 650.000.000 đồng vào việc xây dựng nhà cho mẹ là bà Phùng Thị Thu H2 tại thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam; trả nợ cho ông Nguyễn Thanh S1 215.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 06 tháng 10 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát Điều tra ban hành Văn bản số 3909/CV-CSHS/D3 gửi Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q về việc tạm dừng việc chuyển nhượng, mua bán, tặng cho và cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 1302, tờ bản đồ số 4, thôn H, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Nam do bà Phùng Thị Thu H2 là chủ sở hữu.
Bản giám định số 98 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận:
01 GCNQSDĐ số CP580205 đối với thửa 738, diện tích 100m²; 01 GCNQSDĐ số CP580587 đối với thửa 173, diện tích 98m² và 04 GCNQSDĐ số CP580587 đối với thửa 173, diện tích 50m² ký hiệu từ A1 đến A6 so với " GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng 01 bản in in ra.
Bản giám định số 230 ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận:
- Hình dấu có nội dung "ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG” trên tài liệu mẫu cần giám định (quyết định giao đất) ký hiệu từ A1 và A2 không phải do con dấu có hình dấu mẫu cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 và M2 đóng ra.
- Chữ viết, chữ ký mang tên Trần Thị Thu H trên các tài liệu mẫu cần giám định (Bản cam kết và Giấy nhận tiền) ký hiệu A3 và A4 so với chữ viết, chữ ký của Trần Thị Thu H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M5 do cùng 01 người viết và ký ra.
Bản giám định số 591 ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ kết luận:
"GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” mẫu cần giám định ký hiệu A so với "GIẤY CHỨNG NHẬNQUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIÊN VỚI ĐẤT" mẫu so sánh ký hiệu M1 không phải do cùng 01 bản in ra.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Tuyên bố: bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Q số tiền là 1.790.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm chín mươi triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụngđiểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06 tháng 4 năm 2023.
Bà Phùng Thị Thu H2 phải có trách nhiệm nộp lại 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q. Tiếp tục duy trì Văn bản số 3909/CV-CSHS/D3 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ về việc tạm dừng việc chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất tại thửa đất số 1302, tờ bản đồ số 04 thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam do bà Phùng Thị Thu H2 đứng tên sở hữu, sử dụng cho đến khi bà H2 hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả số tiền nói trên.
Anh Nguyễn Thanh S1 phải có trách nhiệm nộp lại 215.000.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 25 tháng 3 năm 2024 anh Nguyễn Thanh S1 kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung không đồng ý hoàn trả 215.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Nguyễn Thanh S1 trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà phát biểu:
Về tố tụng:
ngày 25 tháng 3 năm 2024 anh Nguyễn Thanh S1 kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định.
Về nội dung:
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội và xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H hai tội là 16 (mười sáu) năm tù là có căn cứ, thoả đáng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. Đối với kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thấy rằng: quá trình điều tra đã xác định trong tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại có chuyển cho anh Nguyễn Thanh S1 (thông qua tài khoản của anh Lê Văn A) số tiền 215.000.000 đồng. Đây là khoản tiền có nguồn gốc từ tội phạm, Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định buộc anh Nguyễn Thanh S1 nộp lại số tiền 215.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật và số tiền này sẽ được khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo H cho bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Nguyễn Thanh S trình bày: Luật sư không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo. Việc bồi thường cho bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Thanh S1 trình bày: tôi nhận tiền từ anh Lê Văn A, tôi không biết tiền này do bị cáo H phạm tội mà có. H có nợ tiền tôi. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho tôi.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ngày 25 tháng 3 năm 2024 anh Nguyễn Thanh S1 kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Như vậy kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1 là trong thời hạn luật định, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét bản án sơ thẩm kết tội bị cáo:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Thị Thu H trình bày thể hiện:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ nên Trần Thị Thu H đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật đối với anh Nguyễn Tấn Q là có thể làm các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hồ sơ 3 lá hoặc các thủ tục tách thửa, cấp đổi đất mới. Do đó, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 8 năm 2022, Trần Thị Thu H đã nhiều lần (3 lần) nhận tổng số tiền 1.580.000.000 đồng từ anh Nguyễn Tấn Q để hứa hẹn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ hồ sơ 3 lá, xin tách thửa, đổi vị trí đất đến các đường lớn. Ngoài ra, quá trình thực hiện hành vi phạm tội Trần Thị Thu H còn gian dối trong việc tạo lập tài khoản Zalo tên T giới thiệu là cán bộ Phòng Tài nguyên Môi trường quận L để liên hệ với anh Q, lên mạng xã hội đặt làm giả 07 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 02 Quyết định giao đất giả (bản chính) mang tên ông Nguyễn Tấn Q và vợ là Nguyễn Thị Huỳnh Y giao cho anh Q tin tưởng để chiếm đoạt tiền của anh Q.
Kết quả điều tra đã xác định: trong tổng số tiền chiếm đoạt của anh Q, Trần Thị Thu H sử dụng 350.000.000 đồng chuyển khoản cho anh Huỳnh Công V là Chủ thầu xây dựng và 300.000.000 đồng cho bà Phùng Thị Thu H2 là mẹ ruột của H để trả các chi phí xây nhà cho bà H2. Sử dụng 250 triệu đồng để trả nợ cho anh Nguyễn Thanh S1 (chuyển vào tài khoản của anh Lê Văn A 215 triệu đồng).
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Thu H tại phiên toà xét xử phúc thẩm phù hợp với lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Trần Thị Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a, b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Về điều luật áp dụng, mức hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Thu H5 nguy hiểm cho xã hội, phạm hai tội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, xâm phạm đến uy tín, hoạt động đúng đắn bình thường của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lý con dấu giấy tờ tài liệu; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá về tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân bị cáo và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật. Từ đó xử phạt bị cáo Trần Thị Thu H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.3] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1:
Tài liệu chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra thu thập và lời khai xác nhận của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thể hiện: sau khi bị cáo Trần Thị Thu H chiếm đoạt của anh Nguyễn Tấn Q số tiền 1.580.000.000 đồng, bị cáo H đã sử dụng trả nợ cho anh Nguyễn Thanh S1 215.000.000 đồng. Xét thấy: số tiền 215.000.000 đồng mà bị cáo Trần Thị Thu H dùng để chuyển trả nợ cho anh S1 là khoản tiền có nguồn gốc từ tội phạm, nên cần buộc anh Nguyễn Thanh S1 nộp lại để đảm bảo thi hành án là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, số tiền này sẽ được khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q.
[3] Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Thanh S1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm:
bị cáo Trần Thị Thu H không phải chịu. Anh Nguyễn Thanh S1 phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Tuyên bố: bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Q số tiền là 1.790.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm chín mươi triệu đồng).
- Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Thị Thu H không phải chịu. Anh Nguyễn Thanh S1 phải chịu 300.000đ, được trừ vào số tiền anh S1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001443 ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2.2. Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06 tháng 4 năm 2023.
4.1. Bà Phùng Thị Thu H2 phải có trách nhiệm nộp lại 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q. Tiếp tục duy trì Văn bản số 3909/CV-CSHS/DD ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ về việc tạm dừng việc chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất tại thửa đất số 1302, tờ bản đồ số 04 thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam do bà Phùng Thị Thu H2 đứng tên sở hữu, sử dụng cho đến khi bà H2 hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả số tiền nói trên.
4.2. Anh Nguyễn Thanh S1 phải có trách nhiệm nộp lại 215.000.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
| Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
| (Đã ký) | (Đã ký) |
| Nguyễn Tấn LongPhạm Văn Hợp | Trần Quốc Cường |
Bản án số 352/2024/HS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 352/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Thanh S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 2. Tuyên bố: bị cáo Trần Thị Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; 2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 2.2. Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Thị Thu H 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. 2.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt chung của cả 2 tội buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải chấp hành là 16 (mười sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06 tháng 4 năm 2023. 3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Trần Thị Thu H phải bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Q số tiền là 1.790.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm chín mươi triệu đồng). 4. Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự: 4.1. Bà Phùng Thị Thu H2 phải có trách nhiệm nộp lại 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q. Tiếp tục duy trì Văn bản số 3909/CV-CSHS/DD ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ về việc tạm dừng việc chuyển nhượng, mua bán, tặng cho, cầm cố, thế chấp và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất tại thửa đất số 1302, tờ bản đồ số 04 thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam do bà Phùng Thị Thu H2 đứng tên sở hữu, sử dụng cho đến khi bà H2 hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả số tiền nói trên. 4.2. Anh Nguyễn Thanh S1 phải có trách nhiệm nộp lại 215.000.000 đồng (hai trăm mười lăm triệu đồng) để đảm bảo thi hành án, khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Trần Thị Thu H cho bị hại Nguyễn Tấn Q.
