TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 352/2024/HS-PT Ngày 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán:Bà Trần Thị Thu Thủy
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 83 ngày 25 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 386/2024/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Phước L, sinh năm 1986 tại Vĩnh Long. Nơi cư trú: số C ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: mua bán; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P và bà Tô Thanh T; vợ Nguyễn Thị Quỳnh N (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2013; tiền sự: không; tiền án: 01 lần, ngày 15/11/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xử phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, ngày 04/02/2021 chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 07/12/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Lê Ngô Phương T1 – Luật sư thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị hại:
- Lê Thị Lệ U, sinh năm 1981; Nơi thường trú: A95/1 khóm D, phường E, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; Nơi tạm trú: số G, phường B, thành phố thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bùi Văn K, sinh năm 1957; Nơi cư trú: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Lê Thị D, sinh năm 1962; Nơi cư trú: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: số A đường T, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Trọng T2 là: ông Trần Minh Hoan H - Luật sư của Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh V (vắng mặt).
- Phan Thanh H1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Phan Thanh P1, sinh năm 1986; Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Phan Thanh D1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1994; Nơi cư trú: số B đường C, khóm C, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Võ Tường D2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: số E, tổ A, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Văn Bé N2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: số B ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Trần Kim N3, sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1972; Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thúy N4, sinh năm 1993; Nơi thường trú: số C, đường E, khu phố I, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: số D đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Phước L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Phước L, trú tại: số C ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, trong thời gian dịch bệnh C, gia đình L có mở kinh doanh quán cơm nên L có nhận đặt cơm và giao cơm đến nơi cho người mua. Quá trình đi giao cơm, L có quen biết chị Lê Thị Lệ U, sinh năm 1981, chỗ ở số G phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long và biết chị U có kinh doanh bất động sản. L nảy sinh ý định muốn chiếm đoạt tiền của chị U nên rủ chị U hùn tiền mua đất nhằm chiếm đoạt tiền của chị U thể hiện như sau:
Lần 1: thông qua Nguyễn Văn Bé N2, trú tại: số B ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. L biết bà Trần Kim N3, trú tại: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long có nhu cầu bán thửa đất số 199, tờ bản đồ số 13, diện tích 1.040,7m2, loại đất trồng lúa; thửa đất số 85, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.031,1m2, loại đất trồng lúa, cùng tọa lạc tại xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo L nhờ Bé N2 dẫn gặp bà N3 để hỏi mua, sau nhiều lần thương lượng, L và bà N3 thống nhất giá chuyển nhượng 02 thửa đất trên là 400.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, L gặp chị U bàn việc
hùn tiền mua 02 thửa đất trên. Để chị U tin tưởng vào việc hùn tiền mua đất, L nói dối chị U là 02 thửa đất trên chủ đất kêu bán giá 700.000.000 đồng, chị U hùn 400.000.000 đồng, L hùn 300.000.000 đồng, quyền sử dụng đất sẽ để chị U đứng tên một mình, nên chị U đồng ý.
Ngày 23/10/2021, chị U và L lập hợp đồng hùn vốn mua 02 thửa đất nói trên. Cùng ngày, L và vợ chồng bà Trần Kim N3 đến Văn phòng C1, địa chỉ: Số A, đường P, phường H, TPVL, tỉnh Vĩnh Long để ký hợp đồng mua bán. Vì sợ chị U gặp vợ chồng bà N3 sẽ phát hiện giá chuyển nhượng thật của 02 thửa đất nên sau khi vợ chồng bà N3 ký tên, điểm chỉ vào Hợp đồng chuyển nhượng xong, L kêu vợ chồng bà N3 đến Garage P của ông Nguyễn Văn P là cha ruột của L, tại phường H, TPVL, Vĩnh Long đợi L rút tiền về trả. Sau đó L trả tiền đất cho bà N3 150.000.000 đồng, phần tiền còn lại đến nay L chưa trả cho bà N3.
Sau khi vợ chồng bà N3 đi lại Garage Phước L1 chờ nhận tiền, L1 điện thoại kêu chị U đến Văn phòng C1 ký Hợp đồng chuyển nhượng, ký xong chị U đưa cho L1 số tiền 200.000.000 đồng, khoảng 07 ngày sau, chị U tiếp tục đưa cho L1 số tiền 200.000.000 đồng.
Trong khi chị U chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 08/11/2021, L1 nói với chị U là tiền chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất ở là 160.000.000 đồng, mỗi người đóng một nửa và L1 kêu chị U đưa L1 số tiền 80.000.000 đồng để hùn đóng tiền chuyển mục đích sử dụng đất của 02 thửa đất trên, chị U đồng ý và đưa đủ số tiền 80.000.000 đồng cho L1. Đến ngày 08/12/2021, chị U nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02 thửa đất nói trên, nhưng mục đích sử dụng đất vẫn là đất trồng lúa, không phải là đất ở như L1 nói đã chuyển mục đích. L1 chiếm đoạt 80.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Xác minh thông tin quy hoạch vị trí 02 thửa đất nêu trên, tại Công văn số 479/TNMT, ngày 14/11/2022 của Phòng T7 thuộc UBND huyện L, tỉnh Vĩnh Long thì 02 thửa đất này nằm trong khu quy hoạch đất trồng lúa nên không được chuyển mục đích sang đất ở.
Lần thứ 2: Thông qua người đàn ông tên Ú ở xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (không rõ địa chỉ), L1 biết được thông tin anh Võ Văn Tuấn E, trú tại: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long có nhu cầu cần bán thửa đất số 328, tờ bản đồ số 2, diện tích 1.000 m2, loại đất trồng lúa nước, tại xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, L1 nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị U nên rủ chị U hùn tiền mua thửa đất trên. Để chị U tin tưởng, ngày 02/11/2021, L1 và chị U lập Hợp đồng hùn vốn mua thửa đất trên với giá 400.000.000 đồng (Lộc hùn 150.000.000 đồng, chị U hùn 250.000.000 đồng), về Hợp đồng chuyển nhượng L1 nói có quen biết để L1 tự làm nên không đưa Hợp đồng cho chị U ký. Để chị U tin tưởng, L1 kêu chị U soạn thảo Hợp đồng “Về việc áp dụng biện pháp đặt cọc nhằm đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thửa đất của Võ Văn T4 Em rồi đưa cho L1 cùng 250.000.000 đồng để L1 đưa cho Tuấn E ký và đặt tiền cọc mua đất cho Tuấn E, nhưng khi nhận Hợp đồng đặt cọc và số tiền 250.000.000 đồng từ chị U thì L1 mang về nhà rồi tự ý ký giả chữ ký và viết họ tên Võ Văn T4 Em vào hợp đồng, rồi lăn dấu vân tay của L1 vào nơi ký tên Tuấn E trong hợp đồng rồi đưa lại cho chị U. Sau đó, L1 kêu chị U hùn tiền đóng tiền chuyển mục đích sử dụng đất sang
đất ở, chị U tin tưởng đã chuyển vào tài khoản số [...] của L1 202.000.000 đồng (ngày 09/11/2021, chuyển 52.000.000 đồng, ngày 22/12/2021, chuyển 150.000.000 đồng) thực tế L1 không đóng tiền chuyển mục đích sử dụng đất, L1 chiếm đoạt số tiền này. Tổng cộng, L1 chiếm đoạt của chị U số tiền 452.000.000 đồng .
Lần thứ 3: Ông Nguyễn Văn Bé N2 và bà Nguyễn Thị Thùy L2 trú tại: số B ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, cần bán thửa đất số 171, tờ bản đồ số 17, diện tích 1.424,4 m2, tại: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long với giá 320.000.000 đồng, L1 lấy thông tin thửa đất này, sau đó rủ chị U hùn tiền mua nhằm để chị U đưa tiền cho L1, rồi chiếm đoạt.
Để chị U tin tưởng, ngày 12/11/2021, L1 và chị U lập Hợp đồng hùn vốn mua chung quyền sử dụng thửa đất trên với giá 600.000.000 đồng, (L1 hùn 300.000.000 đồng, chị U hùn 300.000.000 đồng). Hợp đồng chuyển nhượng L1 nói L1 có quen biết để L1 tự làm, sau đó chị U chuyển tiền vào tài khoản của L1 02 lần số tiền 100.000.000 đồng (ngày 13/11/2021, chuyển 50.000.000 đồng; Ngày 15/11/2021, chuyển 50.000.000 đồng). Khoảng 10 ngày sau, chị U đưa 200.000.000 đồng tiền mặt cho một người đàn ông tại trước Văn phòng Công chứng Trần Thị M, do L1 nói người này là chủ đất và L1 kêu chị U đưa tiền cho người này. Sau đó, L1 tiếp tục kêu chị U hùn tiền đóng tiền chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở số tiền là 150.000.000 đồng, mỗi người đóng một nửa, chị U đưa cho L1 số tiền 75.000.000 đồng. Tổng cộng, L1 chiếm đoạt của chị U số tiền 375.000.000 đồng.
Sau khi chị U và L1 hùn tiền mua thửa đất số 328 (T) và thửa đất số 171 (Bé Nhỏ) như trên, chị U nhiều lần yêu cầu L1 đưa giấy chứng nhận QSDĐ của 02 thửa đất này nhưng L1 đưa ra nhiều lý do như: Chờ chuyển mục đích sử dụng đất, khó khăn về thủ tục giấy tờ, đưa ra thông tin gian dối là có người mua đất để chị U tin tưởng và kéo dài thời gian không đòi tiền hùn vốn mua 02 thửa đất nói trên. Cụ thể như sau:
Ngày 20/12/2021, L1 nói dối với chị U là có người tên Trần Văn T5, trú tại: Số E, khóm B, phường I, TPVL, tỉnh Vĩnh Long (thông tin về Trần Văn T5 do bị cáo L1 lấy được trên mạng) muốn mua 02 thửa đất số 199 và 85 với giá 3.000.000.000 đồng và kêu chị U soạn Hợp đồng “về việc áp dụng biện pháp đặt cọc nhằm đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” 02 thửa đất 199 và 85 để L1 đưa Trần Văn T5 ký. Chị U soạn hợp đồng xong đưa cho L1, L1 mang Hợp đồng này đưa cho một người bán vé số tại khu vực phường B, TPVL, tỉnh Vĩnh Long ký tên dùm tên T5 (không biết họ tên, chỗ ở), còn họ tên Trần Văn T5 do L1 viết, dấu vân tay thì L1 đưa cho một người bán vé số tại khu vực phường H, TPVL (không biết họ tên, chỗ ở) lăn dấu vân tay vào. Bị cáo L1 đưa Hợp đồng lại cho chị U, kèm theo 50.000.000 đồng, L1 nói đó là tiền Tài đặt cọc mua đất, chị U tin tưởng và đưa lại cho L1 25.000.000 đồng.
Ngày 13/01/2022, bị cáo L1 tiếp tục nói với chị U là Trần Văn T5 (có địa chỉ như trên) muốn mua thửa đất số 171 với giá 1.600.000.000 đồng và L1 soạn Hợp đồng “về việc áp dụng biện pháp đặt cọc nhằm đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thửa đất 171, soạn xong, L1 mang
Hợp đồng này đưa cho một người bán vé số tại khu vực phường B, TPVL, tỉnh Vĩnh Long (không biết họ tên, chỗ ở) ký tên T5, còn họ tên Trần Văn T5 do bị cáo L1 viết, dấu vân tay thì bị cáo L1 đưa cho một người bán vé số tại khu vực phường H, TPVL, tỉnh Vĩnh Long (không biết họ tên, chỗ ở) lăn dấu vân tay vào. L1 đưa Hợp đồng đặt cọc lại cho chị U, kèm theo số tiền 50.000.000 đồng, L1 nói là tiền Tài đặt cọc mua đất, chị U tin tưởng nên đưa lại L1 số tiền 25.000.000 đồng.
Sau khi đặt cọc vẫn không thấy người mua đất tiến hành chuyển nhượng đất, chị U hối thúc Lộc và đòi tiền hùn vốn, nên ngày 27/02/2022, L1 viết “Bản cam kết” với chị U là từ ngày 27/02/2022 đến ngày 03/3/2022, L1 bán 03 thửa đất số 199, số 85 và số 171 với giá 4.500.000.000 đồng, đến thời điểm này L1 vẫn không có thực hiện cam kết này.
Ngày 17/6/2022, L1 đặt cọc cho chị U số tiền 50.000.000 đồng và viết “Giấy đặt cọc”, nội dung: Từ ngày 17/6/2022 đến ngày 28/6/2022, L1 mua lại 03 thửa đất số 199, số 85 và số 171 với giá 2.250.000.000 đồng, nhưng đến thời điểm này bị cáo L1 không thực hiện giao dịch như thỏa thuận. Lúc này chị U phát hiện L1 lừa gạt mình để chiếm đoạt tiền nên làm đơn tố cáo L1 đến cơ quan chức năng nên L1 bị khởi tố và bị bắt tạm giam cho đến nay.
Căn cứ vào Kết luận giám định số: 805/KL-KTHS, ngày 19/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận:
Chữ viết họ tên Trần Văn T5 cần giám định trên tài liệu A1, A2 (Hợp đồng “về việc áp dụng biện pháp đặt cọc nhằm đảm bảo ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, ngày 20/12/2021 và ngày 13/01/2022) so với chữ viết họ tên Trần Văn T5 mẫu so sánh trên tài liệu ký hiệu M5 là do cùng một người viết ra.
Như vậy, tổng số tiền L1 chiếm đoạt của chị U là: 907.000.000 đồng (lần thứ 1 là 80.000.000đ; lần thứ 2 là 452.000.000 đồng; lần thứ 3 là 375.000.000 đồng). Sau khi chị U gửi đơn tố cáo, L1 đã trả cho chị U số tiền 595.000.000 đồng. Ngoài ra, chị U còn nhận từ L1 số tiền 100.000.000 đồng trong 03 lần đặt cọc mua đất nêu trên. Như vậy, hiện L1 còn nợ chị U số tiền 212.000.000 đồng .
Quá trình điều tra xác định được, ngoài việc lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị U, L1 còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người như sau:
1. Ông Nguyễn Trọng T2, sinh: 1962, trú tại: 1 đường T, phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Ông Nguyễn Trọng T2 và Nguyễn Văn Bé N2 là anh em bạn rể, thông qua Nguyễn Văn Bé N2, L1 biết ông Nguyễn Trọng T2 đang có nhu cầu làm lại giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 279, tờ bản đồ số 12, diện tích 87,9m2, tọa lạc: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để tăng thêm diện tích xung quanh thửa đất. Mặc dù, biết không làm được nhưng bị cáo L1 vẫn nhận làm, với tiền phí 30.000.000 đồng và cam kết trong vòng 03 tháng sẽ có giấy chứng nhận QSDĐ mới theo yêu cầu của ông T2. Ông T2 đưa trước cho L1 số tiền 10.000.000 đồng, đồng thời đưa cho L1 bản photo giấy chứng nhận QSDĐ thửa 279. Để ông T2 tin tưởng đưa tiền, khoảng 07 ngày sau L1 thuê một người thanh niên đang làm công việc đo đạc tại quốc lộ A, đoạn gần vòng xoay Cầu Đ, thuộc xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (không biết tên, chỗ ở) đến thửa đất của ông T2 để cùng L1 đo thửa đất. Sau khi đo
và xác định diện tích xung quanh thửa đất số 279 là 144,3 m2, L1 nhiều lần kêu ông T2 đưa tiền để trả phí làm giấy tờ đất, phí trước bạ, tiền chuyển mục đích sử dụng, tổng cộng 127.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền thì L1 không làm thủ tục giấy tờ như đã hứa.
Đến khoảng tháng 10/2021, L1 rủ ông T2 hùn mua thửa đất số 118 của bà Trần Kim N3 với giá 1.200.000.000 đồng, mỗi người hùn 600.000.000 đồng, L1 và ông T2 lập Hợp đồng hùn vốn mua chung quyền sử dụng đất thửa số 118, mỗi người hùn 300.000.000 đồng, ông T2 đưa 300.000.000 đồng cho L1, sau đó L1 kêu ông T2 hùn tiền đóng thuế chuyển mục đích sử dụng đất mỗi người 130.000.000 đồng, ngày 13/10/2021 ông T2 đưa 130.000.000 đồng cho lộc. Tiếp tục, L1 kêu ông T2 đưa thêm 30.000.000 đồng tiền hùn tiền đóng thuế chuyển mục đích sử dụng thêm 100m2 thửa đất này, ông T2 đã đưa thêm cho L1 30.000.000 đồng. Thực tế L1 không có mua đất của bà Kim N3 hay chuyển mục đích đất gì cả.
Ngày 17/01/2022, L1 yêu cầu ông T2 tiếp tục hùn vốn lần 2 (số tiền 600.000.000 đồng còn lại: mỗi người 300.000.000 đồng). Ngày 18/01/2022, L1 thuê một người đàn ông làm hồ xây dựng tại công trình thuộc khu công nghiệp H, huyện L (Không biết tên, chỗ ở) với giá 500.000 đồng để đóng vai chủ đất Nguyễn Thanh T3 đến nhận 300.000.000 đồng của ông T2.
Ngày 02/7/2022, L1 và Nguyễn Trọng T2 thỏa thuận tổng số tiền T2 đưa L1 trong việc L1 nhận làm giấy tờ đất thửa 279 và hùn mua thửa đất 118 là 900.000.000 đồng (bao gồm số tiền 12.000.000 đồng Lộc mượn của T2).
Khoảng tháng 08/2022, L1 trả Tín 80.000.000 đồng, và Nguyễn Văn Bé N2 trả nợ cho L1 29.300.000 đồng số tiền này Bé N2 trả cho ông T2 nhận trừ nợ của L1, nên hiện L1 còn chiếm đoạt của ông T2 là: 790.700.000 đồng.
2. Ông Phan Thanh H1, sinh: 1976, trú tại: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Năm 2021, ông Phan Văn N5, trú tại: Ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long đứng tên sở hữu 04 thửa đất gồm: Thửa số 1, số 4, tờ bản đồ số 7; Thửa số 192, số 224, tờ bản đồ số 0001 tọa lạc ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 04 thửa đất trên, chưa làm đường đi qua. Vì vậy, sau khi làm đường ông Phan Văn N5 muốn làm lại giấy chứng nhận QSDĐ nhằm xác định chính xác diện tích đất để ông chia cho các con, cùng với việc làm lại giấy chứng nhận QSDĐ thửa 192, thửa 224 để tăng thêm diện tích phần đất bãi bồi xung quanh 02 thửa đất này. Tuy nhiên, thửa đất số 192 tiếp giáp với thửa đất của ông Phan Văn B, có tranh chấp về ranh đất nên không đo đạc được.
Vào khoảng tháng 4/2021, thông qua một người đàn ông (không biết tên, chỗ ở), ông H1 liên lạc nhờ L1 làm giấy tờ đất như trên, L1 đồng ý và hẹn hôm sau qua nhà ông H1. Với mục đích muốn chiếm đoạt tiền của ông H1 và để ông H1 tin tưởng, ngày hôm sau L1 thuê người đàn ông đang đo đạc công trình đường vỉa hè thuộc khu vực xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre đóng vai nhân viên đo đạc và trả phí cho người này 1.000.000 đồng, L1 thuê xe ô tô chở người đàn ông và 01 người phụ nữ (bạn của người đàn ông) đến nhà của ông H1 để đo đất. Sau khi đo xong, ông H1 trả phí đo đạc cho L1 3.000.000 đồng, L1 xác định phần đất bồi xung
quanh thửa đất 192 và 224 là 1.400 m2, nên L1 tính phí tăng thêm của diện tích 1.400 m2 là 100.000 đồng/m2, tổng cộng 140.000.000 đồng. Sau đó, L1 kêu ông H1 đưa tiền để làm giấy tờ đất, ông H1 đã chuyển vào tài khoản số [...] của L1 07 lần tổng cộng 151.000.000 đồng. Qua một thời gian, thấy lâu mà L1 không đưa giấy tờ như đã hứa, nhiều lần ông H1 kêu L1 trả tiền lại, nhưng L1 hứa hẹn mà không trả.
Đến khoảng ngày 22/7/2022, L1 viết “Giấy cam kết”, nội dung: Đến ngày 09/8/2022, L1 sẽ trả đủ 151.000.000 đồng cho ông H1, nhưng L1 còn không thực hiện. Ngày 12/9/2022, L1 viết biên nhận còn nợ ông H1 số tiền 151.000.000 đồng và tiền lãi là 29.000.000 đồng, tổng cộng là 180.000.000 đồng, và viết cam kết ngày 12/9/2022, L1 sẽ trả ông H1 80.000.000 đồng đến ngày 19/9/2022, L1 sẽ trả hết số tiền còn lại, nhưng đến chiều cùng ngày, L1 chỉ chuyển khoản trả H1 20.000.000 đồng, và số tiền còn nợ ông H1 160.000.000 đồng đến nay L1 chưa trả.
3. Ông Phan Thanh P1, sinh: 1986, trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Vào khoảng tháng 4/2021, anh P1 gặp L1 đo đất và nhận làm giấy tờ đất cho ông H1. P1 nói cho L1 biết P1 đang sử dụng thửa đất 43 do Nguyễn Văn T6 còn đứng tên chủ sở hữu. Hiện những người tiếp giáp xung quanh thửa đất 43 không ký, P1 hỏi L1 có làm được giấy chứng nhận QSDĐ từ Nguyễn Văn T6 sang tên anh P1 được không, L1 trả lời làm được. Sau khi đo đất của ông H1 xong, L1 và người đàn ông tiếp tục đo đất của anh P1, và cả hai thỏa thuận là L1 làm giấy tờ đất như yêu cầu của anh P1 với tiền phí 90.000.000 đồng. Sau đó, nhiều lần, L1 kêu anh P1 đưa tiền cho L1 để làm giấy tờ đất nhưng thực tế L1 không có làm giấy tờ gì cho anh P1 và anh P1 đã chuyển tiền cho L1 tổng cộng số tiền 95.000.000 đồng. Sau nhiều lần P1 yêu cầu L1 đưa giấy chứng nhận QSDĐ, L1 hứa hẹn nhiều lần mà không có và L1 viết cam kết hứa trả lại tiền cho anh P1 nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện. Ngày 12/9/2022, L1 chuyển trả P1 55.000.000 đồng, hiện L1 còn nợ của anh P1 40.000.000 đồng tiền gốc và 20.000.000đ tiền lãi chưa trả.
4. Anh Phan Thanh D1, sinh: 1982, trú tại: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Anh Phan Thanh D1 là anh ruột của Phan Thanh P1 (địa chỉ như nêu trên), anh D1 đang sử dụng thửa đất số 8, đất này có tranh chấp với ông Phan Văn B và được tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm xong, anh D1 có nhờ L1, nhờ người tác động Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm số 161/2019/DSPT, ngày 24/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, L1 đồng ý nói sẽ giúp được cho anh D1 và nói tiền phí 200.000.000 đồng, Anh D3 tin tưởng L1 nói là thật nên đưa tiền cho L1 nhiều lần tổng cộng 152.000.000 đồng. Thực tế bản thân L1 không biết ai ở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh nhưng vì để chiếm đoạt tiền của ông D3 nên bị cáo L1 nói là sẽ giúp được cho ông D3, khi nhận được tiền thì L1 không có làm gì hết và đã chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên.
5. Anh Nguyễn Hữu N1, sinh: 1994, trú tại: B đường C, khóm C, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Vào năm 2022, anh N1 xây dựng nhà trên thửa đất 325, bản đồ số 19, diện tích 54,8m2, tọa lạc tại số B, đường C, khóm C, phường H, TPVL, tỉnh Vĩnh Long. Giáp với thửa đất (Phía sau nhà) là kênh rạch, anh N1 muốn làm lại giấy chứng nhận QSDĐ để tăng thêm diện tích phía sau nhà. Tuy nhiên, lúc này, giấy chứng nhận QSDĐ thửa 325 Nhi đã thế chấp để vay tiền ngân hàng.
Vào khoảng tháng 6/2022, thông qua người quen, anh N1 biết L1 có làm giấy tờ về nhà đất, nên anh N1 điện thoại liên lạc với L1 nói rõ yêu cầu làm lại giấy chứng nhận QSD đất do có tăng thêm diện tích và cho L1 biết hiện giấy chứng nhận QSDĐ thửa 325 đang thế chấp để vay tiền ngân hàng, L1 đồng ý nói làm được và tiền phí là 50.000.000 đồng, tiền đo đạc 2.500.000 đồng, tổng cộng 52.500.000 đồng. Anh N1 tin tưởng L1 nói là thật nên đồng ý và đưa tiền cho L1 nhiều lần tổng cộng 37.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền của anh N1, L1 không làm gì cả và tiêu xài hết. Nhiều lần anh N1 hỏi giấy tờ đất, L1 hứa hẹn và cam kết sẽ trả lại anh N1 số tiền đã nhận nhưng vẫn không thực hiện, đến ngày 23/11/2022 anh N1 làm đơn tố cáo L1 đến cơ quan chức năng, nên ngày 05/12/2022 L1 trả lại anh N1 7.000.000 đồng, còn lại 30.000.000 đồng L1 không trả và chiếm đoạt cho đến nay.
6. Bà Lê Thị D, sinh:1962, trú tại: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; Ông Bùi Văn K, sinh: 1957, trú tại: ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Thông qua cháu nội ruột ông Bùi Văn K tên là Đ nên ông K biết Nguyễn Phước L và ông K có nhu cầu đổi giấy chứng nhận QSDĐ của ông từ giấy đỏ sang giấy hồng đồng thời có giới thiệu bà Lê Thị D cho L để L làm giấy tờ tách thửa đất giùm bà D.
Sau đó, khoảng tháng 11/2022, L và ông K gặp nhau tại thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, ông K photo giấy chứng nhận QSDĐ của ông đưa cho L, rồi ông K dẫn L đến gặp bà Lê Thị D, mục đích là để L làm giấy tờ đất cho bà D luôn. Bà D kêu L đo đạc, tách thửa khoảng 700 m2 đến 800 m2 để bán và cả hai thỏa thuận tiền phí trả cho L là 12.000.000 đồng. Bị cáo L kêu bà D đưa 9.600.000 đồng tiền phí đo đạc. Khoảng 03 ngày sau, L thuê 02 người đàn ông (không biết tên, chỗ ở, số điện thoại) đang đo đạc ở đường Q, thuộc khu vực thị xã B đóng giả nhân viên đo đạc để đo đất của ông K và bà D, L trả cho 02 người này 500.000 đồng. sau đó, nhiều lần L kêu bà D đưa tiền phí tách thửa và đổi giấy chứng nhận QSDĐ, tổng cộng bà D đã đưa cho L 44.600.000 đồng, ông K đưa L 2.400.000 đồng tiền phí đo đạc. Sau khi nhận tiền của bà D, ông K, L không làm gì cả, lấy tiền tiêu xài hết.
7. Anh Võ Tường D2, sinh: 1985, trú tại: số E, tổ A, ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Vào khoảng tháng 5/2021, trong lúc Võ Tường D2 ngồi chờ công chứng giấy tờ tại Văn phòng C2, phường A, TPVL thì quen biết với bị cáo Nguyễn Phước L và L giới thiệu rành về thủ tục giấy tờ nhà đất, có quen nhiều cán bộ dưới huyện L và tỉnh Vĩnh Long, làm giấy tờ mau lẹ, nếu có nhu cầu thì liên hệ L.
Ngày 20/9/2021, anh D2 dùng điện thoại chụp hình giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất của mình gửi qua zalo của L và hỏi L thửa đất này chuyển mục đích sử dụng và tách thành 06 thửa được không, L trả lời được và nói tiền phí là 20.000.000 đồng. Nghe L nói vậy, anh D2 tin tưởng nên ngày 25/9/2021, anh D2
đưa L số tiền 20.000.000 đồng để làm thủ tục đo đạc, tách thửa. Khi nhận tiền của anh D2 xong, nhằm để anh D2 tin tưởng, khoảng vài ngày sau, L đến khu vực thuộc xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long thuê 01 người đàn ông (không biết tên, chỗ ở) đang làm hồ xây dựng nhà, đóng giả nhân viên đo đạc với tiền phí 500.000 đồng, đến đo thửa đất của anh D2. Sau đó, nhiều lần L kêu anh D2 chuyển tiền để L đóng thuế chuyển mục đích sử dụng đất, phí đo đạc, phí làm giấy tờ và anh D2 đã chuyển tiền cho L nhiều lần tổng cộng là: 143.400.000 đồng, nhưng thực chất L không có làm gì cả, lấy tiền tiêu xài hết.
Đối với những người Lộc nhờ đóng giả chủ đất, nhân viên đo đạc, người bán vé số ký tên dùm, cơ quan chức năng không xác định được họ tên và địa chỉ, khi nào tìm được xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Thúy N4, sinh: 1993, trú tại: số D đường L, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, có mở tài khoản để L chuyển tiền và rút tiền dùm L, nhưng N4 không biết tiền của L do phạm tội mà có, và cũng không biết và không tham gia vào việc lừa đảo của L, nên cơ quan chức năng không xử lý đối với N4.
Tại cáo trạng số 43/CT-VKS-P1 ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 21/12/2023/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/12/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/12/2023, bị cáo Nguyễn Phước L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử phạt bị cáo 16 năm tù là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cho rằng, sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo có bồi thường thêm số tiền 60.000.000 đồng cho người bị hại, nhưng không có tài liệu, giấy tờ chứng minh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 16 năm tù là nặng. Hơn nữa, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo có bồi thường thêm số tiền 60.000.000 đ cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
* Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Phước L:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phước L thừa nhận hành vi phạm tội, như sau: Do cần tiền tiêu xài cho gia đình và cá nhân nên bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt của chị Lê Thị L3 Quân số tiền 907.000.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Nguyễn Trọng T2 số tiền 887.000.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Phan Thanh H1 số tiền 151.000.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Phan Thanh P1 số tiền 95.000.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu N1 số tiền 37.000.000 đồng; Chiếm đoạt của chị Lê Thị D số tiền 44.600.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Bùi Văn K số tiền 2.400.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Võ Tường D2 số tiền 143.400.000 đồng; Chiếm đoạt của anh Phan Thanh D1 số tiền: 152.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là: 2.419.400.000 đồng.
[2]. Xét lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại, người liên quan, phù hợp với kết quả giám định, vật chứng của vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt có giá trị lớn, phạm tội rất nhiều lần, dùng thủ đoạn tinh vi, tái phạm nguy hiểm. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo khắc phục một phần hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xử phạt bị cáo 16 năm tù là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cho rằng sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo có bồi thường thêm số tiền 60.000.000 đ cho người bị hại, nhưng không có tài liệu, giấy tờ chứng minh. Nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[4]. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[6]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu.
[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Phước L.
Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 49/2023/HS-ST ngày 21/12/2023/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/12/2022.
- Án phí phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Phước L phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 352/2024/HS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 352/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phước L phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
