Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3511/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 31/7/2024.

V/v Tranh chấp ly hôn và tài sản

chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hương Thuỷ
  2. Ông Phạm Văn Phước.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải – Kiểm sát viên.

Vào các ngày 16 tháng 7 năm 2024 và 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 1196/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp về ly hôn và chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4278/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Ninh Xuân Đ, sinh năm 1966; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Bị đơn: Bà Mai Thị N, sinh năm 1969; Căn cước công dân số: [...]; Địa chỉ: Số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chu Thị H, sinh năm: 1973 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: D T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Ninh Hoài N1, sinh năm: 1993 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn yêu cầu ly hôn ngày 18/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ninh Xuân Đ trình bày: Ông Đ và bà N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại xã Y, huyện T, tỉnh Hà Nam Ninh vào ngày 29 tháng 9 năm 1991.

Trong quá trình chung sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, ông Đ và bà N đã cố khắc phục nhưng không có kết quả, nên ông Đ và bà N đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn không hàn gắn được, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân này, nên ông yêu cầu được ly hôn bà Mai Thị N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Ninh Hoài N1, sinh ngày 27/11//1993; Ninh Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/2000 (các con chung đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Quá trình chung sống ông bà có 01 căn nhà tọa lạc tại số G, Đường số A, phường P, thành phố T, theo Giấy chứng nhận số BV 093532, số vào sổ cấp GCN CH01198 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp ngày 15/9/2014. Ông Đ yêu cầu được hưởng ½ giá trị căn nhà theo giá của Theo Chứng thư thẩm định giá số 0101001/2024/CT-SGL ngày 03/01/2024 giá do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T, ông yêu cầu được nhận nhà và trả ½ giá trị căn nhà cho bà N nếu hòa giải thành, trường hợp Tòa án xét xử ông yêu cầu chia tài sản theo tỷ lệ 70/30, ông hưởng 70%, bà N hưởng 30% giá trị căn nhà.

Đối với yêu cầu phản tố của bà N về khoản tiền 700.000.000 đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, số tiền này ông cho bà Chu Thị H, mượn nên ông Đ phải chia ½, bà N được hưởng 350.000.000 đồng. Ông định không đồng ý với yêu cầu của bà N, vì số tiền này bà H đã trả cho và ông và bà N và ông đã chi trả cho việc học hành của con gái Ninh Thị Thu H1 học ở Canada.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Mai Thị N là bị đơn trình bày: Bà N xác nhận quá trình kết hôn và chung sống, con chung và tài sản chung giữa bà và ông Ninh Xuân Đ là đúng như lời trình bày của ông Đ. Trong thời gian chung sống giữa bà và ông Đ đã xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn do ông Đ có mối quan hệ bên ngoài, nhưng hiện nay bà vẫn còn tình cảm với chồng, nên bà mong muốn được đoàn tụ, bà không đồng ý ly hôn.

Có 02 con chung tên Ninh Hoài N1, sinh ngày 27/11//1993; Ninh Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/2000 (các con chung đã trưởng thành).

Về tài sản chung: Có 01 căn nhà tọa lạc tại số G, Đường số A, phường P, thành phố T, theo Giấy chứng nhận số BV 093532, số vào sổ cấp GCN CH01198 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp ngày 15/9/2014 đứng tên bà Mai Thị N và ông Ninh Xuân Đ. Bà N yêu cầu được lấy căn nhà này và hoàn tiền lại cho ông Đ 1.000.000.000 đồng với lý do như sau: Ông Đ có lương hưu, bà không có lương hưu, bà chỉ làm công việc nội trợ và buôn bán nhỏ, con trai tên Ninh Hoài N1 bị chấn thương sọ não từ năm 2015 đến nay không có công ăn việc làm, bà là người nuôi con, bà có cung cấp các đơn thuốc cho Tòa án để chứng minh.

Về khoản tiền 700.000.000 đồng mà ông Đ cho bà Chu Thị H vay, bà N yêu cầu được chia đôi bà được nhận số tiền 350.000.000 đồng.

Nợ chung: Không có

Chu Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ngày 06 tháng 10 năm 2022 ông Đ lúc đó là Phó hiệu trưởng trường Q gửi bà 400.000.000 đồng tiền mặt nhờ giữ hộ, ngày 30/5/2023 ông Đ chuyển khoản gửi bà số tiền 300.000.000 đồng, tổng cộng là 700.000.000 đồng. Trong thời gian này bà tính mượn tạm số tiền trên nhưng vì vợ chồng ông Đ có sự bất đồng nên ngày 20/9/2023 bà đã trả lại toàn bộ số tiền trên cho ông Đ. Bà cam đoan nội dung tự khai là đúng sự thật và xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đồng thời vì lý do bận công việc nên bà H xin vắng mặt trong các phiên hoà giải và xét xử của Toà án.

Anh Ninh Hoài N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Anh N1 là con của ông Đ và bà N, hiện đang sinh sống tại số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bố mẹ ly hôn và phân chia tài sản chung, anh có ý kiến như sau: Về hôn nhân giữa bố mẹ, anh không có ý kiến, hiện cá nhân anh đã trưởng thành, có việc làm và sức khoẻ bình thường. Về phân chia tài sản chung là nhà đất là do thoả thuận của bố mẹ và phán quyết của Toà án. Cá nhân anh không có đóng góp gì nên không có ý kiến. Đồng thời vì lý do bận công việc nên anh N1 xin vắng mặt trong các phiên hoà giải và xét xử của Toà án.

Tại phiên toà:

Ông Ninh Xuân Đ giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bà N. Về tài sản chung ông Đ đồng ý giao ngôi nhà 77, Đường số A, phường P, thành phố T cho bà N, yêu cầu chia theo tỷ lệ 60/40 vì ông có công sức đóng góp nhiều hơn nên hưởng 60%. Số tiền 700 triệu ông không đồng ý chia.

Bà N không đồng ý ly hôn với ông Đ: Bà đồng ý lấy căn nhà G, Đường số A, phường P, thành phố T, bà yêu cầu chia căn nhà theo tỷ lệ 50/50 vì bà có công sức đóng góp ngang nhau với ông Đ, theo đó bà sẽ trả lại 50% giá trị căn nhà cho ông Đ theo giá của Chứng thư thẩm định giá đã định; yêu cầu chia đôi khoản tiền 700 triệu đồng.

Mai Thị N có đơn phản tố đề ngày 24/7/2024 yêu cầu tòa án giải quyết đối với số tiền 2.300.000.000 đồng là số tiền ông Đ đã chuyển cho bà H2 và yêu cầu cấp dưỡng cho con trai 5.000.000 đồng/tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên cần rút kinh nghiệm về thời hạn chuẩn bị xét xử.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn ông Đ. Con chung đã trưởng thành. Tài sản chung: Chia theo tỷ lệ 60/40 ông Đ hường 60%, bà N 40% giá trị căn nhà theo Chứng thư thẩm định giá. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Đ về việc giao ngôi nhà 77, Đường số A, phường P, thành phố T cho bà N. bà N có nghĩa vụ trả lại 60% giá trị căn nhà cho ông Đ. Chia đôi số tiền 700.000.000 đồng mỗi người 350 triệu, ông Đ trả cho bà N 350.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Ông Ninh Xuân Đ yêu cầu ly hôn với bà Mai Thị N, bà Mai Thị N yêu cầu được chia tài sản chung khi hôn hôn với ông Đ nên căn cứ quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung khi ly hôn”. Bà N cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Chu Thị H, ông Ninh Hoàn N2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông N2.

Theo kết quả xác minh ngày 08/11/2023 của Công an phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh “hiện nhà đất 77 Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có 4 nhân khẩu:

  1. Ông Ninh Xuân Đ- Nghỉ hưu
  2. Mai Thị N – Bán quần áo ở nhà
  3. Ninh Hoài N1, Sinh năm 1993 - Chưa có việc làm ở nhà
  4. Ninh Thị Thu H1 sinh năm 2000 – Sinh viên”.

Quá trình giải quyết vụ án ông Đ, bà N xác nhận con chung Ninh Thị Thu H1 đã đi du học tại Canada từ tháng 12/2018 và không có công sức đóng góp gì đối với tài sản này nên ông Đ yêu cầu Toà án không đưa cháu H1 vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét cháu Ninh Thị Thu H1 được xác định là nhân khẩu trong căn nhà số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, là con gái của ông Đ, bà N, đã trưởng thành, từ năm 2018 đã đi du học, quá trình cháu H1 ở tại căn nhà trên không đóng góp, tôn tạo đối với căn nhà, hiện tại đang sinh sống tại Canada nên việc Toà án phân chia tài sản chung giữa ông Đ và bà N không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cháu H1. Vì vậy Toà án không đưa cháu H1 tham gia vụ án với tư là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa bị đơn bà Mai Thị N có đơn phản tố đề ngày 24/7/2024 yêu cầu tòa án giải quyết đối với số tiền 2.300.000.000 đồng là số tiền ông Đ đã chuyển cho bà H2 và yêu cầu cấp dưỡng cho con trai 5.000.000 đồng/tháng.

Xét, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà N đã 2 lần nộp Đơn phản tố.

Lần 1: Yêu cầu chia căn nhà.

Lần 2: Ngày 22/01/2024, bị đơn bà Mai Thị N có Đơn yêu cầu chia tài sản chung đề ngày 19/01/2024, bà N yêu cầu xác định số tiền 3.000.000.000 đồng mà ông Đ cho người khác mượn là tài sản chung của hai vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân.

Ngày 24/01/2024 Tòa án đã tiến hành lập Biên bản làm việc với bà N, yêu cầu bà N nộp Đơn phản tố bổ sung và đóng tạm ứng án phí, nộp các tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng bà N không nộp đơn và không thực hiện theo nội dung Biên bản làm việc của Toà án.

Ngày 26/02/2024 Tòa án đã ra Thông báo về yêu cầu Nộp phản tố bổ sung và tống đạt hợp lệ cho bà Mai Thị N. Theo đó, Tòa án thông báo cho bà Mai Thị N được biết, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Thông báo, bà N phải nộp cho Toà án Yêu cầu phản tố bổ sung. Hết thời hạn nếu người được thông báo không nộp thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày ngày 14 tháng 3 năm 2024 tòa án đã ban hành Thông báo thụ lý số 1196/02/2024/TBTL-TA sau khi nhận được Đơn phản tố bổ sung và Biên lai nộp án phí cho yêu cầu phản tố bổ sung của bà N đối với số tiền 700.000.000 đồng.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và hòa giải sau đó bà N không có yêu cầu và không bổ sung thêm về yêu cầu của mình đối với số tiền 2.300.000.000 đồng. Vì vậy, Đơn phản tố đề ngày 24/7/2024 của bà N không có cơ sở để chấp nhận theo quy định của pháp luật tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Ông Ninh Xuân Đ yêu cầu ly hôn với bà Mai Thị N. Về con chung: Có 02 con chung tên tên Ninh Hoài N1, sinh ngày 27/11/1993 (đã trưởng thành); Ninh Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/2000 (đã trưởng thành). Về tài sản chung: Có 01 căn nhà tọa lạc tại số G, Đường số A, phường P, thành phố T, theo Giấy chứng nhận số BV 093532, số vào sổ cấp GCN CH01198 do Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T) cấp ngày 15/9/2014 đứng tên bà N và ông Đ. Ông Đ đồng ý giao nhà cho bà N, yêu cầu bà N hoàn lại cho ông 60% giá trị căn nhà theo giá tại Chứng thư thẩm định giá.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Ninh Xuân Đ yêu cầu ly hôn với bà Mai Thị N. Theo bản chính Giấy chứng nhận kết hôn đã được do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Hà Nam Ninh cấp ngày 29/9/1991 cho ông Ninh Xuân Đ và bà Mai Thị N nên quan hệ hôn nhân giữa ông và bà N là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của ông Đ thì cuộc sống vợ chồng giữa ông Đ và bà N thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, bà N thường xuyên có những hành động, lời nói xúc phạm ông, nên từ năm 2021 đến nay, ông Đ và bà N đã sống ly thân với nhau. Ông Đ xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà N.

Theo lời trình bày của bà N thì trong thời gian chung sống giữa bà và ông Đ đã xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn do ông Đ không chia sẻ, không cảm thông với bà, lâu ngày dồn nén, tích tụ thành mâu thuẫn lớn, làm cho bà rơi sâu vào bức xúc, nên bà đã cư xử dùng những lời lẽ cũng như những hành động của mình không đúng với ông Đ, do đó mâu thuẫn giữa bà và ông Đ ngày càng lớn, nên bà và ông Đ sống ly thân với nhau từ năm 2023 đến nay. Nay ông Đ yêu cầu ly hôn với bà, bà không đồng ý ly hôn với ông Đ mà muốn đoàn tụ gia đình do bà vẫn còn tình cảm với ông Đ, đồng thời muốn gìn giữ nếp nhà cho các con có cha có mẹ.

Hội đồng xét xử xét: Theo đơn yêu cầu ly hôn của ông Đ và nguyện vọng được đoàn tụ gia đình của bà N, Tòa án đã thụ lý vụ án và tổ chức nhiều phiên hành hòa giải đoàn tụ nhưng các bên vẫn giữ nguyên ý kiến.

Gia đình chiếm một vị trí rất lớn trong đời sống xã hội, vợ chồng chung sống với nhau phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, xây dựng hạnh phúc gia đình, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm nhau. Giữa bà N và ông Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng khiến cuộc sống hôn nhân ngày càng rơi vào bế tắc trầm trọng, dẫn đến hai bên không thể ngồi lại bàn bạc, trao đổi và hàn gắn mối quan hệ. Việc bà N lấy lý do vẫn còn tình cảm với ông Đ, muốn đoàn tụ gia đình để giữ nếp nhà cho các con có cha mẹ là không thể làm được khi hai bên không còn tiếng nói chung. Mặt khác, hiện tại ông Đ và bà N đã sống ly thân với nhau nhiều năm nay giữa hai bên đã không còn cuộc sống vợ chồng, không có sự vun đắp, chia sẻ, thương yêu, quý trọng lẫn nhau, một mình bà N không thể vun đắp tạo nên một gia đình hạnh phúc. Do đó mục đích hôn nhân giữa ông Đ và bà N là không đạt được, mâu thuẫn không thể hàn gắn, nên yêu cầu đoàn tụ gia đình của bà N là không phù hợp với quy định tại Điều 3, Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ.

[3.2] Về con chung: Theo bản sao Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình ngày 27/11/1993 cấp cho Ninh Hoài N1, sinh ngày 27/11/1993 (đã trưởng thành). Theo bản sao Giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương cấp cho Ninh Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/2000 (đã trưởng thành), đều thể hiện cha là ông Ninh Xuân Đ và mẹ bà Mai Thị N. Do ông N1, bà H1 đã trưởng thành, nên không xét.

[3.3] Về tài sản chung: Ông Ninh Xuân Đ và bà Mai Thị N thống nhất xác định căn nhà số S, Đường số A, phường P, thành phố T, theo Giấy chứng nhận số BV 093532, số vào sổ cấp GCN CH01198 do I (nay là thành phố T) cấp ngày 15/9/2014 là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Tại phiên tòa ông Đ đồng ý giao nhà cho bà N, ông Đ yêu cầu được hưởng 60% giá trị căn nhà, bà N đồng ý lấy nhà nhưng không đồng ý với yêu cầu chia theo tỷ lệ 60/40 của ông Đ, bà N yêu cầu chia theo tỷ lệ 50/50 vì bà cũng có công sức đóng góp ngang nhau với ông Đ.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù nguồn gốc căn nhà số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có được là do phần lớn công sức đóng góp của ông Ninh Xuân Đ. Ông Đ là cán bộ quân nhân và tham gia chiến trường tại Camphuchia được nhà nước cấp đất để xây dựng nhà ở theo Quyết định số 603/QĐ-NĐ ngày 15/6/1994 của Quân khu Q là đất ở tại A2/5 Khu 138 phần 3 đường T, diện tích 80m vuông. Sau đó ông Đ dùng tiền bán nhà tại A Khu A phần C đường T để mua căn nhà số G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cho cả gia đình ở và đứng tên cả 2 vợ chồng trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Dù bà N từ trước đến nay chỉ ở nhà nội trợ, và chăm sóc con cái, gìn giữ hạnh phúc gia đình thì công sức đóng góp vào khối tài sản chung của người đi làm và người ở nhà nội trợ theo Hội đồng xét xử là ngang nhau. Vì Vậy, căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu chia đôi tài sản chung.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ninh Xuân Đ, giao căn nhà trên cho bà N, theo đó bà N phải trả lại ½ giá trị căn nhà theo Chứng thư thẩm định giá số 0101001/2024/CT-SGL ngày 03/01/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên T, tương ứng số tiền là 2.502.000.000 đồng cho ông Đ.

Đối với yêu cầu của bà N về việc chia tài sản chung là khoản tiền 700.000.000 đồng. Bà Chu Thị H đã có lời khai cho rằng: Ngày 20/9/2023 bà H đã lại toàn bộ số tiền trên cho ông Đ. Hội đồng xét xử xét: Vì đây là khoản tiền trong thời kỳ hôn nhân mà ông Đ đã gửi cho bà H giữ, đến ngày 20/9/2023 bà H đã hoàn trả số tiền này cho ông Đ, bà N. Ông Đ đã nhận lại và khai rằng ông đã dùng khoản tiền đó để lo cho con gái đang du học tại Canada. Tuy nhiên, ông Đ không có chứng cứ chứng minh số tiền 700.000.000 đồng dùng cho mục đích nêu trên. Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014, số tiền 700.000.000 đồng là tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014, số tiền 700.000.000 đồng được chia cho bà N ½, tương ứng 350.000.000 đồng. Như vậy, ông Đ phải trả cho bà N số tiền 350.000.000 đồng.

Theo nội dung Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/11/2023 Toà án có ghi nhận, trên nhà đất tại G Đường số A, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ngoài phần được xây dựng theo đúng hiện trạng Giấy chứng nhận thì ông Đ, bà N có dựng tạm thêm một phần đất bên hông có diện tích khoảng 50m², một mặt hướng ra đường số A, một mặt hướng ra đường số A, phường P, hiện gia đình đang cho thuê, phần nhà đất này không được cấp Giấy chứng nhận nhưng gắn liền với phần nhà đất đang tranh chấp. Sau khi được chia tài sản thì ông Đ đồng ý để bà N khai thác, thu tiền cho thuê đối với người thuê.

Trường hợp Cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tháo dỡ phải thực hiện theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, phần nhà đất tự xây thêm là một phần của căn nhà và được ông Đ và bà N tự dựng lên để khai thác sử dụng, việc ông Đ tự nguyện tiếp tục cho bà N nhận tiền thuê phần này là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Trường hợp phần xây dựng thêm không phù hợp với quy hoạch hoặc bị buộc tháo dỡ theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì các đương sự phải thực hiện.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đối với yêu cầu ly hôn và yêu cầu phản tố trên số tiền 700.000.000 đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận; Đối với yêu cầu chia tài sản là căn nhà theo tỉ lệ 60/40 Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Về án phí: Ông Đ là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Đ, bà N chịu tiền án phí chia tài sản chung được hưởng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 3, Điều 19, Điều 33; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ninh Xuân Đ:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Ninh Xuân Đ được ly hôn với bà Mai Thị N.

1.2. Về con chung: Có 02 con tên Ninh Hoài N1, sinh ngày 27/11/1993 (đã trưởng thành). Ninh Thị Thu H1, sinh ngày 14/4/2000 (đã trưởng thành).

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố về chia tài sản chung khi ly hôn của bà Mai Thị N.

2.1. Về tài sản chung: Chia đôi căn nhà số G Đường số Đ, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Ninh Xuân Đ giao nhà đất nêu trên cho bà Mai Thị N. Bà N phải thanh toán cho ông Đ ½ giá trị căn nhà, tương ứng số tiền là 2.502.000.000 đồng đồng (hai tỷ, năm trăm lẻ hai triệu đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.2. Ông Ninh Xuân Đ phải thanh toán cho bà Mai Thị N ½ số tiền mà bà H đã trả cho ông Đ, tương ứng số tiền là 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày các bên có đơn yêu cầu thi hành án, nếu các bên chưa thi hành xong việc trả tiền nêu trên, thì các bên đương sự còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ông Ninh Xuân Đ có trách nhiệm bàn giao bản chính Giấy chứng nhận số BV 093532, số vào sổ cấp GCN CH01198 do I (nay là thành phố T) cấp ngày 15/9/2014 cho bà N để bà N liên hệ với cơ quan nhà Nước có thẩm quyền làm thủ tục đứng tên chủ sở hữu đối với nhà đất nêu trên. Mọi chi phí liên quan đến việc cập nhật sang tên do bà N chịu.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Ninh Xuân Đ phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0003419 ngày 18/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Án phí đối với yêu cầu phản tố trên số tiền chia tài sản chung 2.852.000.000 đồng Bà N phải chịu là 89.040.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp là 34.750.000 đồng theo các Biên lai thu số AA/2022/0004211 ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Biên lai thu số 0025615 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà N phải nộp thêm số tiền 54.290.000 đồng. Ông Đ phải chịu án phí là 89.040.000 đồng. Ông Đ chưa nộp án phí.

Chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản tranh chấp do ông Ninh Xuân Đ tự nguyện chịu nên Tòa án ghi nhận.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - UBND xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, TP Tam
  • Điệp, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3511/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn và tài sản chung khi ly hôn

  • Số bản án: 3511/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và tài sản chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Đ yêu cầu ly hôn bà N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger