Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 351/2023/DS-ST

Ngày: 24/8/2023

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thành Huế

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Dương Minh Kiên
  2. Bà Châu Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa : Bà Lê Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2023/QĐXXST- DS ngày 03 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 311/2023/QĐST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; địa chỉ: Tầng A (Tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S - Số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  1. Ông Phạm Ngọc T - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Có mặt);
  2. Ông Nông Văn T1 - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Vắng mặt);
  3. Ông Võ Văn T2 - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Vắng mặt);
  4. Ông Trần Ngọc V1 - Cán bộ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tầng F Tòa nhà S, số B đường U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số 05.2756.23 ngày 11/5/2023).

Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Huệ Lê H, sinh năm 1975;

2/ Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1977

Cùng thường trú: Số B đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng tạm trú: Số I đường T, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Ngọc T trình bày:

Ngày 24/6/2015, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Sau đây được viết tắt là Ngân hàng) đã ký kết hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1- 661.15 (Sau đây được viết tắt là Hợp đồng). Nội dung Hợp đồng thỏa thuận, Ngân hàng cho ông H và bà V2 vay số tiền là 450.000.000 đồng, mục đích cho vay tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình. Tài sản thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển số: 51A-804.70, thời hạn vay 36 tháng, từ ngày 25/6/2015 đến ngày 24/6/2018. Lãi suất vào thời điểm giải ngân là 9.99%/năm, mức lãi suất này được điều chỉnh 3 tháng/lần. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng (lĩnh lãi cuối kỳ) do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.29%/năm phù hợp với các quy định của pháp luật, Ngân hàng N và chính sách của Ngân hàng tại từng thời kỳ. Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 25 mỗi tháng trả 12.500.000 đồng, kỳ hạn trả nợ đầu tiên vào ngày 25/7/2015. Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 25; trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.

Ngày 24/6/2015 ngân hàng đã giải ngân cho ông H và bà V2 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0087/KUNN1- 661.15 với số tiền vay là 450.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà V2 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 98.663.108 đồng, trong đó nợ gốc là 75.000.000 đồng, nợ lãi là 23.663.108 đồng. Ông H và bà V2 luôn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển khoản vay của ông H và bà V2 sang khoản nợ quá hạn từ ngày 26/01/2016. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở việc thanh toán khoản nợ còn lại nhưng ông H và bà V2 vẫn không thực hiện, cố tình kéo dài thời gian trả nợ. Ngày 24/8/2021 Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H và bà V2 yêu cầu thanh toán khoản nợ vay và nợ lãi phát sinh. Tạm tính đến đến ngày 24/8/2023 ông H và bà V2 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 937.047.409 đồng, trong đó gồm có: Nợ gốc là: 375.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.504.909 đồng, nợ lãi quá hạn là: 555.542.500 đồng. Trả ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 25/8/2023 yêu cầu ông H và bà V2 tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng. Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản thế chấp.

Bị đơn không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết hợp lệ các văn bản và giấy triệu tập của Tòa án cho bị đơn là ông Nguyễn H1 Lê H và bà Nguyễn Thị V2 tại địa chỉ số thường trú số S đường Q, Phường A, quận G và địa chỉ tạm trú số I đường T, Phường E, quận G nhưng bị đơn không đến Tòa trong các buổi mời làm việc, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn cũng như Tòa án không nhận được các tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp. Tòa án vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 29/5/2023 và gửi cho bị đơn thông báo kết quả các phiên họp. Do bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn, ông Phạm Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.

Bị đơn, ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng
  1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  1. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
  1. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015. Ngân hàng đã cho ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 vay số tiền 450.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng ông H và bà V2 vi phạm thời hạn thanh toán nên ngày 26/01/2016 Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn. Do ông H và bà V2 không thanh toán đúng hạn nên phát sinh lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng. Căn cứ bản tóm tắt sao kê tính lãi thể hiện ông H và bà V2 có thực hiện giao dịch với Ngân hàng. Tính đến ngày 24/8/2023 ông H và bà V2 còn nợ Ngân hàng số tiền: tổng số tiền 937.047.409 đồng, trong đó gồm có: Nợ gốc là: 375.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.504.909 đồng, nợ lãi quá hạn là: 555.542.500 đồng. Ngân hàng yêu cầu ông H và bà V2 thanh toán số nợ trên là có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày 24/8/2023 là tiền 937.047.409 đồng, trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, theo Hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 494759.KUNN801.18 ngày 24/6/2015. Ông H và bà V2 tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 25/8/2023 cho đến khi trả dứt nợ. Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản thế chấp nên không xét.

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần Q có đơn khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 trả toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015, tính đến ngày 24/8/2023 với số nợ là 937.047.409 đồng. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ kết quả xác minh của Công an P và Công an P1 quận G, TP ., thể hiện ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2, có địa chỉ tạm trú tại Phường E, quận G, nhưng đã chuyển đi đâu không rõ. Như vậy, ông H và bà V2 thay đổi nơi cư trú không báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định luật cư trú đã thể hiện nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện. Ngân hàng đã ghi đúng địa chỉ của ông H và bà V2 trong đơn khởi kiện theo địa chỉ tại Hợp đồng tín dụng, việc ông H và bà V2 thay đổi nơi cư trú mà không báo cho Ngân hàng biết địa chỉ nơi cư trú mới, cũng được coi là cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định địa chỉ của bị đơn tại quận G, TP .. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và bị đơn không có yêu cầu phản tố. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2.

[3] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ vay và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/8/2023 với tổng số tiền 937.047.409 đồng, trong đó gồm có: Nợ gốc là: 375.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.504.909 đồng, nợ lãi quá hạn là: 555.542.500 đồng. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015; Đơn yêu cầu giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 494759.KUNN801.18 ngày 24/6/2015; Bảng tính lãi, đối chiếu các văn bản, tài liệu khác của Ngân hàng đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 có ký kết với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015, theo đơn yêu cầu giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 24/6/2015 thể hiện số tiền ông H và bà V2 đã vay của Ngân hàng là 450.000.000 đồng, mục đích cho vay tiêu dùng, mua sắm vật dụng gia đình mục đích Tài sản thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, biển số: 51A-804.70. từ ngày 25/6/2015 đến ngày 24/6/2018. Lãi suất vào thời điểm giải ngân là 9,99%/năm, mức lãi suất này được điều chỉnh 3 tháng/lần. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng (lĩnh lãi cuối kỳ) do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.29%/năm, Hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng vào ngày 25 mỗi tháng trả 12.500.000 đồng, kỳ hạn trở nợ đầu tiên vào ngày 25/7/2015. Hoàn trả lãi: Hàng tháng vào ngày 25; trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Xét nội dung thoả thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng nêu trên về khoản nợ vay, lãi suất và trách nhiệm trả nợ phù hợp với quy định tại Điều 280, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N và thỏa thuận lãi suất phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” và phù hợp với quy định tại Điều 7 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp, tại bản tình hình giao dịch khế ước và bản sao kê tính lãi chứng minh khoản nợ ông H và bà V2 đã thanh toán số tiền 98.663.108 đồng, trong đó nợ gốc là 75.000.000 đồng, nợ lãi là 23.663.108 đồng. Do ông H và bà V2 không thanh toán nợ còn nên Ngân hàng Ngân hàng đã chuyển khoản vay của ông H và bà V2 sang khoản nợ quá hạn từ ngày 26/01/2016 là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng. Việc ông H và bà V2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H và bà V2 thực hiện việc nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Ông H và bà V2 không đến Tòa, không có lời khai, không cung cấp chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, ông H và bà V2 đã từ bỏ các quyền được pháp luật quy định. Theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Hội đồng xét xử căn cứ hợp đồng tín số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015, theo đơn yêu cầu giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 24/6/2015, bản các bản điều khoản và điều kiện tín dụng và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ kiện do nguyên đơn cung cấp, xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về thời hạn và phương thức thanh toán.

Xét thấy, ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận mà các bên ký kết đã gây thiệt hại cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và tiền lãi phát sinh nêu trên làm một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 thanh toán toàn bộ khoản nợ tính đến ngày 24/8/2023 là 937.047.409 đồng, trong đó gồm có: Nợ gốc là: 375.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.504.909 đồng, nợ lãi quá hạn là: 555.542.500 đồng, phát sinh theo Hợp đồng tín số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 494759.KUNN801.18 ngày 24/6/2015. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 25/8/2023 ông H và bà V2 phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự với mức thu là 40.111.422 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần Q không phải chịu án phí, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.502.037 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0012870 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

  • - Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Buộc ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 thanh toán toàn bộ khoản nợ tính đến ngày 24/8/2023 là 937.047.409 đồng (Chín trăm ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn bốn trăm lẻ chín đồng) trong đó gồm có: Nợ gốc là: 375.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.504.909 đồng, nợ lãi quá hạn là: 555.542.500 đồng, phát sinh theo Hợp đồng tín số 0087/HD9TD1-661.15 ngày 24/6/2015 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 494759.KUNN801.18 ngày 24/6/2015. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 25/8/2023 ông H và bà V2 phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • - Ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V2 phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 40.111.422 đồng (Bốn mươi triệu một trăm mười một nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng).
  • - Ngân hàng thương mại cổ phần Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.502.037 đồng (Mười bảy triệu năm trăm lẻ hai nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) theo biên lai thu số AA/2022/0012870 ngày 09/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND quận Gò Vấp;
  • - Chi cục THADS quận G;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 351/2023/DS-ST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 351/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Huệ Lê H và bà Nguyễn Thị V thanh toán nợ vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger