TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 351/2025/HS-ST Ngày: 30/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Phi Hổ
- Bà Huỳnh Thị Minh Huệ
- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Thành Đạt – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 329/2025/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 670/2025/HSST-QĐ ngày 16/12/2025, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Phi H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
- Họ và tên: Phạm Quốc T. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh H3. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 2005, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: 125/6, khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Con ông Phạm Ngọc H1, sinh năm 1973 và bà Cao Thị Mỹ L, sinh năm 1977. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Sinh năm 2004, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: C, khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 6/12. Con ông Phạm Xuân Q, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1970. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Sinh năm 2003, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: 95/27/16, khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: Lớp 7/12. Con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1974. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Phi H và Võ Phạm Thu L2 (sinh năm 2007, ngụ tại phường T, tỉnh Nghệ An) có quan hệ tình cảm với nhau. Vào ngày 23/3/2025, sau khi biết được thông tin Phạm Phi H và Phạm Quốc T (là bạn của H) đang ngồi ăn uống với 02 người phụ nữ tại quán "T" thuộc phường T tỉnh Đồng Nai, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 24/3/2025, L2 rủ thêm nhóm bạn của mình gồm: Lê Nguyễn Tường V (sinh năm 2007, ngụ phường T, tỉnh Đồng Nai); Đặng Hoàng Đ (sinh năm 2004, ngụ phường T, tỉnh Đồng Nai), Vũ Thị Ngọc T2 (sinh năm 2007 ngụ phường L, tỉnh Đồng Nai). Đào Thị Phương U (sinh năm 2007, ngụ phường T, tỉnh Đồng Nai) và Trần Thị Ngọc N (sinh năm 2007, ngụ phường T, tỉnh Đồng Nai) cùng đi đến quán "Thùy L3" gặp H để nói chuyện. Tại đây, L3 tát vào mặt H 02 cái, còn nhóm bạn của L3 thì chửi H rồi sau đó bỏ đi trước. Một lúc sau, trên đường L chở H đi về thì gặp lại nhóm bạn của mình và có thêm bạn trai của N là Lê Duy A (sinh năm 2003, ngụ phường T, tỉnh Đồng Nai) nên L3 rủ cả nhóm vào quán cà phê “Trạm” tại địa chỉ số B, khu phố A phường H, thành phố B (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai) để uống nước. Khi vào quán, do bức xúc về việc bị nhóm bạn của L3 chửi nên H ngồi riêng một mình, sau đó gọi điện thoại rủ Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 đến đánh Đặng Hoàng Đ thì T và H3 đồng ý.
Đến khoảng 01 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe môtô biển số 60C2 416.75 mang theo 01 cây gậy sắt (cán bằng nhựa, kích thước 40cm x 0,8cm) chở H3 mang theo 01 con dao (cán bằng nhựa, kích thước 40cm) ngồi sau, đi tới quán cafe “Trạm”. Khi thấy T và H3 đến, H liền đứng dậy cầm ghế ném về phía Đ, còn T cùng H3 chạy tới rút gậy sắt và dao mang theo, lao vào đánh chém Đ thì Đ bỏ chạy ra ngoài đường nên không bị thương tích gì. Lúc này, Duy A dùng ghế ngồi của quán ném về phía T thì bị T và H3 sử dụng dao và gậy sắt chém Duy A, thấy vậy H cũng lao vào dùng tay, chân tấn công Duy A thì được mọi người can ngăn nên H, T và H3 bỏ đi, còn Duy A được N và T2 đưa đi bệnh viện cấp cứu.
Quá trình thực hiện hành vi trên. H, H3 và T vừa sử dụng hung khí vừa la hét, chửi bới, rượt đuổi và xô đẩy bàn ghế tại quán, gây náo loạn nơi công cộng vào thời điểm đêm khuya, làm những người có mặt tại quán hoảng loạn, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương thì bị Công an phường L, tỉnh Đồng Nai (trước đây là Công an phường H, thành phố B) lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ điều tra xử lý.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision màu xanh (biển số 60C2-416.75) thu giữ của bị can T, là phương tiện các bị can T và H3 sử dụng vào việc phạm tội. Kết quả xác minh chiếc xe này do anh Hồ Hưng M (sinh năm 1982, ngụ ấp P, xã P, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký sở hữu. Năm 2018, anh M đã bán chiếc xe này cho bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1974, ngụ khu phố B, phường L, tỉnh Đồng Nai, là dì ruột của T) nhưng không làm thủ tục sang tên, sau đó bà L1 cho Phạm Quốc T mượn chiếc xe này để làm phương tiện đi lại và không biết việc bị can sử dụng xe đi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà L1;
- 01 cây gậy sắt (cán bằng nhựa, kích thước 40cm x 0,8cm) và 01 con dao (cán bằng nhựa, kích thước 40cm) là hung khí mà các bị can T và H3 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, quá trình tẩu thoát, T và H3 đã vứt bỏ không xác định rõ được vị trị cụ thể nên không thu hồi được;
- 01 chiếc USB bên trong chứa file video liên quan trong vụ án, trích xuất thu được tại hiện trường. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án;
* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 0357.02/KL.TTCT - TTPYĐN ngày 22/4/2025 của Trung tâm P thuộc Sở Y kết luận: “Tỷ lệ phần trăm thương tích của Lê Duy A là 08% (Tám phần trăm); Thương tích do vật sắc hoặc vật sắc nhọn.
* Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Duy A đã được các bị cáo H, T và H3 liên đới bồi thường số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng) và không có yêu cầu gì thêm.
* Tại cáo trạng số 62/CT-VKSKV1-ĐN ngày 20 tháng 11 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai truy tố các bị cáo: Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều, khoản và tội danh nêu trên.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Bị cáo Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự (quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự).
Đối với hành vi các bị cáo H3, T và H cố ý gây thương tích cho anh Lê Duy A, đã được anh Duy A làm đơn không yêu cầu khởi tố và không xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích",
* Về mức hình phạt Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt:
Phạm Phi H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 cùng mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;
* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây gậy sắt (cán bằng nhựa, kích thước 40cm x 0,8cm) và 01 con dao (cán bằng nhựa, kích thước 40cm) là hung khí mà các bị can T và H3 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, quá trình tẩu thoát, T và H3 đã vứt bỏ không xác định rõ được vị trị cụ thể, không thu hồi được. Nên không xử lý.
* Các bị cáo tại phiên toà đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật và các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo và không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng, tất cả đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Xét thấy, tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng, biên bản lời khai, hỏi cung của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại quán cà phê "Trạm" tại địa chỉ số B, đường N, thuộc khu phố A, phường L, tỉnh Đồng Nai. Các bị cáo Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 đã có hành vi sử dụng hung khí, la hét, chửi nhau, rượt đuổi và xô đẩy bàn ghế tại quán, gây náo loạn nơi công cộng vào thời điểm đêm khuya, làm những người có mặt tại quán lo sợ, hoảng loạn, gây mất an ninh trật tự. Đồng thời dùng hung khí chém, đánh anh Lê Duy A gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08 % (T3 phần trăm), gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ khởi tố, điều tra, xử lý.
[3] Về tội danh và khung hình phạt:
Xét thấy, hành vi của các bị cáo Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 như đã nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung trách nhiệm hình sự “Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân khu vực 1- Đồng Nai đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm:
[4.1] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Xét thấy, hành vi của các bị cáo vừa sử dụng hung khí vừa la hét, chửi nhau, rượt đuổi và xô đẩy bàn ghế tại quán, gây náo loạn nơi công cộng vào thời điểm đêm khuya, đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến trật tự chung, gây bất bình trong quần chúng nhân dân.
Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4.2] Về đồng phạm trong vụ án:
Xét thấy, các bị cáo mặc dù không có sự câu kết chặt chẽ, phân công vai trò trước và sau khi phạm tội. Tuy nhiên, với hành vi mà các bị cáo đã cùng nhau tham gia thực hiện hành vi phạm tội như đã phân tích, đã có cơ sở đánh giá vai trò của từng bị cáo được thể hiện, như sau:
Phạm Phi H là người khởi xướng, rủ T và H3 thực hiện hành vi phạm tội, giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3 là đồng phạm tích cực cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên đều giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Với vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội như trên, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình đã gây ra.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự Do đó, tất cả các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
[6] Về quyết định hình phạt:
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo: Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3, với mức hình phạt đủ sức răn đe, phòng ngừa chung, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
[7] Về vật chứng trong vụ án:
- 01 chiếc USB bên trong chứa file video liên quan trong vụ án, trích xuất thu được tại hiện trường, được lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 cây gậy sắt (cán bằng nhựa, kích thước 40cm x 0,8cm) và 01 con dao (cán bằng nhựa, kích thước 40cm) là hung khí mà các bị cáo T và H3 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, quá trình tẩu thoát, T và H3 đã vứt bỏ không xác định rõ được vị trị cụ thể, không thu hồi được, nên không xem xét xử lý.
[8] Về các nội dung khác:
Đối với hành vi của H3, T và H cố ý gây thương tích cho anh Lê Duy A, đã được anh Lê Duy A làm đơn không yêu cầu khởi tố và không xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với H3, T và H về tội “Cố ý gây thương tích" là phù hợp.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo: Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tại phiên tòa, xét thấy phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận và xem xét khi quyết định trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3, phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Xử phạt: Phạm Phi H 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- - Xử phạt: Phạm Quốc T 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- - Xử phạt: Nguyễn Thanh H3 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo: Phạm Phi H, Phạm Quốc T và Nguyễn Thanh H3; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Hùng |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 351/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 351/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Phạm Phi Hùng, Phạm Quốc Trung và Nguyễn Thanh Hậu, phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. 2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Xử phạt: Phạm Phi Hùng 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. - Xử phạt: Phạm Quốc Trung 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. - Xử phạt: Nguyễn Thanh Hậu 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án. 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo: Phạm Phi Hùng, Phạm Quốc Trung và Nguyễn Thanh Hậu; Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
