|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 351/2025/DS-ST Ngày: 28 tháng 5 năm 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quản;
- Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1075/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về “V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 505/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 630/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam);
Địa chỉ trụ sở chính: I Đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: 06/2023/GUQ-MAFC ngày 02/4/2024, số: 01/2023/UQ-LUẬT TNT và Giấy uỷ quyền ngày 03/4/2024 của Công ty L niềm tin);
Nơi thường trú: ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang;
Địa chỉ liên lạc: P, Tầng A, Tòa nhà số G Đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Chí T, sinh năm 1993;
Địa chỉ: 3 Khu phố A (Khu phố G cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, bản khai, biên bản thì với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Lâm Thị Thùy D trình bày:
Ngày 03/8/2022 Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) với ông Trần Chí T có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 3450195 vay số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng, trong đó khoản vay tiêu dùng 30.000.000 đồng, phí bảo hiểm 0 đồng; thời hạn vay 35 tháng (từ ngày 15/8/2022 đến ngày 15/6/2025); lãi suất 44%/năm; mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Công ty giải ngân ngày 04/8/2022. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông T có trách nhiệm thanh toán vào ngày 15 hàng tháng, ngày thanh toán đầu tiên vào ngày 15/8/2022. Cụ thể: Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 15/5/2025 mỗi tháng trả 1.528.023 (một triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, không trăm hai mươi ba) đồng; tháng cuối cùng 15/6/2025 trả 509.554 (năm trăm lẻ chín nghìn, năm trăm năm mươi bốn) đồng. Thực hiện hợp đồng, ông T đã nhận đủ tiền và thanh toán cho Công ty (tiền gốc, lãi, phí) với số tiền 10.688.062 (mười triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn, không trăm sáu mươi hai) đồng. Sau ngày 18/5/2023 ông T không thanh toán bất cứ khoản nào dù Công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay, Công ty yêu cầu ông T thanh toán số tiền (tính đến ngày 28/5/2025) là 58.372.867 (năm mươi tám triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng. Trong đó:
- Nợ gốc: 25.876.854 đồng;
- Lãi trong hạn: 14.619.163 đồng.
- Lãi quá hạn: 15.715.770 đồng;
- Lãi chậm trả: 2.161.080 đồng.
Ngoài ra, ông Trần Chí T còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 29/5/2025 do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên.
Ngoài ra, nguyên đơn không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 09/5/2025 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; giữ nguyên ý kiến, yêu cầu trình bày trong quá trình tố tụng. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên cần rút kinh nghiệm.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thanh toán số tiền vay do các bên đương sự xác lập, giữa một bên là tổ chức tín dụng với khách hàng. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo kết quả xác minh: “Ông Trần Chí T, sinh năm 1993 thường trú 306/28 Khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có thực tế cư trú tại địa chỉ trên”. Như vậy, bị đơn có nơi cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 03/8/2022 nguyên đơn với bị đơn có Đơn đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 3450195. Tại hợp đồng này, nguyên đơn đồng ý cho bị đơn vay số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng. Trong đó: vay tiêu dùng 30.000.000 đồng, phí bảo hiểm 0 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Và bị đơn cũng đã được giải ngân khoản vay vào ngày 04/8/2022. Thực hiện hợp đồng, bị đơn không trả nợ đầy đủ, nên nguyên đơn khởi kiện. Tính đến ngày xét xử bị đơn còn nợ nguyên đơn 58.372.867 (năm mươi tám triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ 58.372.867 (năm mươi tám triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng. Trong đó: Nợ gốc 25.876.854 đồng; lãi trong hạn: 14.619.163 đồng; lãi quá hạn: 15.715.770 đồng; lãi chậm trả: 2.161.080 đồng. Và bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 29/5/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng, nên từ bỏ quyền tranh tụng.
Theo quy định của pháp luật:
Điều 91, 92, 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, ...”. Đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích vay tiền của bị đơn để tiêu dùng cá nhân, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên Tòa án xét thấy không cần thiết triệu tập thêm đương sự để tham gia tố tụng. Mặt khác, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ. Xét, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
Theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch 58.372.867 đồng x 5% = 2.918.643 (hai triệu, chín trăm mười tám nghìn, sáu trăm bốn mươi ba) đồng, nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí 1.031.685 (một triệu, không trăm ba mươi mốt nghìn, sáu trăm tám mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0049494 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 147, 227, 228, 233, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Chí T có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền 58.372.867 (năm mươi tám triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm sáu mươi bảy) đồng khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Trong đó:
- Nợ gốc: 25.876.854 đồng;
- Lãi trong hạn: 14.619.163 đồng.
- Lãi quá hạn: 15.715.770 đồng;
- Lãi chậm trả: 2.161.080 đồng.
Kể từ ngày 29/5/2025 ông Trần Chí T còn phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.
Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí:
Ông Trần Chí T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.918.643 (hai triệu, chín trăm mười tám nghìn, sáu trăm bốn mươi ba) đồng, nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Công ty T1 (Việt Nam) tiền tạm ứng án phí 1.031.685 (một triệu, không trăm ba mươi mốt nghìn, sáu trăm tám mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0049494 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |
Bản án số 351/2025/DS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 351/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
