|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 351/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 9 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hoa
2. Ông Trần Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan; Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 299/2024/HNGĐST ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị H, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1988; Nơi thường trú: khối F, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Địa chỉ: Số G, đường N, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 2000; Nơi thường trú: xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Đài Loan, không rõ địa chỉ cụ thể. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 05/3/2024, bản tự khai ngày 18/3/2024, ngày 22/7/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Nông Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 30/5/2022, chị Nông Thị H và anh Trần Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, được Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2022. Sau khi kết hôn, chị và anh T1 chung sống với nhau tại Đài Loan một thời gian, sau đó về Việt Nam sinh sống và có với nhau 01 đứa con. Quá trình chung sống, quan hệ vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và tình cảm vợ chồng. Đời sống vợ chồng không thể hòa hợp, chị và anh T1 đã rất cố gắng hàn gắn với nhau nhiều lần nhưng vẫn không thể được. Từ tháng 12 năm 2022, chị đã đưa con về nhà bà ngoại ở Tuyên Quang làm ăn sinh sống và không còn liên lạc với anh T1 nữa. Do đó, chị mong muốn được chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh Trần Văn T1. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Trần Văn T1.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: Nông Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2022. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng là cháu Nông Ngọc Q sẽ do chị nuôi dưỡng và chăm sóc, vì từ khi sinh ra cho đến nay cháu ở với chị tại Tuyên Quang và bố cháu không liên lạc, hỏi han, quan tâm cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn là anh Trần Văn T1 vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 6452/QLXNC-P3 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Cục Q1 – Bộ C thì: “Theo dữ liệu Cục Q1 quản lý: có trường hợp Trần Văn T1, sinh ngày 21/03/2000 tại Nghệ An, khai hộ khẩu thường trú tại: xã H, H, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu C5761782 để xuất cảnh ngày 10/04/2019 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì
vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh T2 ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh T1 vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại “Đơn trình bày” đề ngày 29/7/2024, ông Trần Quang V và bà Ngô Thị T3 (bố mẹ đẻ của anh Trần Văn T1) trình bày: Ông, bà là bố mẹ đẻ của anh Trần Văn T1. Ông bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và 02 công văn của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan. Ông bà viết đơn xin trình bày ý kiến về vụ án như sau: Con trai ông bà là Trần Văn T1 và chị Nông Thị H kết hôn ngày 30/5/2022 tại Văn phòng kinh tế - Văn hoá Việt Nam tại Đ. Quá trình chung sống sinh được 01 con chung là cháu Nông Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2022. Sau khi kết hôn, anh T1 và chị H về Việt Nam sinh sống với nhau hoà thuận một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Chị H đưa con về ngoại ở Tuyên Quang, cháu Ngọc Q ở với mẹ từ đó cho đến nay, còn anh T1 tiếp tục sang Đài Loan xuất khẩu lao động. Anh T1 đi xuất khẩu lao động vẫn thường xuyên liên lạc về nhà. Ông V, bà T3 đã thông báo cho anh T1 về việc chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, đồng thời nói với anh T1 cung cấp địa chỉ tại Đài Loan để Tòa án giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh T1 đã nói rằng địa chỉ của anh T1 ở Đài Loan không cụ thể, thường xuyên di chuyển nên không thể cung cấp cho ông V, bà T3. Về yêu cầu khởi kiện của chị H thì ông V, bà T3 đồng ý với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, vì giữa vợ chồng chị H, anh T1 đã không còn tình cảm, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2022. Về vấn đề nuôi con sau ly hôn: Từ khi sinh đến nay, cháu Q luôn ở với mẹ, nay bố đang đi xuất khẩu lao động nên không trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q được. Vì vậy, ông V, bà T3 đồng ý để chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ
luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
+ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nông Thị H được ly hôn anh Trần Văn T1.
+ Về con chung: Giao cháu Nông Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2022 cho chị Nông Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Văn T1 do chị H chưa có yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Nông Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 05/3/2024, chị Nông Thị H có đơn khởi kiện gửi tới Toà án yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trần Văn T1. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì bị đơn trong vụ án là anh Trần Văn T1 có nơi đăng ký thường trú tại xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nhưng đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan từ nhiều năm nay, đến nay vẫn chưa về. Theo kết quả xác minh tại Cục Q1 – Bộ C thì anh Trần Văn T1 đã xuất nhập cảnh 03 lần, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3
Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Trần Văn T1 mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn T1 hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Đài Loan, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh T1 tại nước ngoài nhưng theo ông Trần Quang V và bà Ngô Thị T3 (bố mẹ đẻ của anh T1) thì anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc với ông bà; ông V và bà T3 đã thông tin cho anh T1 được biết về việc cung cấp địa chỉ của anh T1 tại nước ngoài và ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị H nhưng anh T1 vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn T1.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nông Thị H:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nông Thị H và anh Trần Văn T1 được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có với nhau một người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, từ tháng 12/2022 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không liên lạc, không quan tâm đến nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh T1 lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau là không dài, nhưng đã phát sinh mâu thuẫn gần hai năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị H cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ trình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị H và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Nông Thị H và anh Trần Văn T1 có 01 người con chung là cháu Nông Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2022, hiện nay đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu anh Trần Văn T1 cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của chị H là hoàn toàn chính đáng, cháu Q lại đang còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, từ khi sinh ra đến nay cháu đã ở với chị H, được chăm sóc, phát triển hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường. Mặt khác, anh T1 hiện nay đang ở nước ngoài, ông V và T3 (bố mẹ đẻ anh T1) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh T1 tại nước ngoài và tại “Đơn trình bày”, ông V, bà T3 cũng thống nhất là giao cháu Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cháu Q cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Chị H xin được trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết, anh T1 cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[4] Về án phí: Chị Nông Thị H phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nông Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T1.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nông Ngọc Q, sinh ngày 16/11/2022 cho chị Nông Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nông Thị H không yêu cầu và anh Trần Văn T1 chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.
Anh Trần Văn T1 có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Trần Văn T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nông Thị H không yêu cầu và anh Trần Văn T1 cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
4. Về án phí: Chị Nông Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0003324 ngày 13/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nông Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Trần Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - Văn phòng kinh tế - văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc (theo Giấy CNKH số 114/2022 ngày 30/5/2022); - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 351/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 351/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị H và anh T
