TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 351/2024/DSPT Ngày 14 - 8 - 2024 V/v “tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải;
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 12 và 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS - ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân quận Thốt Nốt bị nguyên đơn, bị đơn kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 262/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1957; (vắng mặt)
- Ông Dương Trọng L, sinh năm 1983; (vắng mặt)
- Ông Dương Thành N, sinh năm 1986; (có mặt)
Cùng địa chỉ: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện hợp pháp cho các nguyên đơn cho ông Nguyễn Tùng L1, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Võ Văn S (S1), sinh năm 1950; địa chỉ: khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
Đại diện ủy quyền: Bà Lê Thị P1, sinh năm 1966; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Vinh Q, sinh năm 1950 là Luật sư thuộc Văn phòng L3; địa chỉ: 2 khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; (vắng mặt)
- Anh Võ Trí H, sinh năm 1982; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Đại diện ủy quyền cho bà Đ và anh H: Bà Lê Thị P1, sinh năm 1966; địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Tùng L1 người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn, ông Võ Văn S là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Đại diện uỷ quyền nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Ông Dương Tấn Đ1 được ủy ban nhân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD ruộng đất số 7502/GCN/RĐ ngày 25/4/1991 thửa 799 và thửa 802 tờ bản đồ số 7c, trong đó thửa 802 diện tích 575m² T, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T. Năm 2002 gia đình ông Đ1 bán phần đất tại thửa 799 cho người khác, sau đó xin cấp đổi thửa 802 được ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 thửa 802 diện tích 575m² (300 T + 275 LNK) do hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên, đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Về nguồn gốc đất trên do ông Đ1 mua của ông Võ Văn S vào khoảng năm 1989 giá 08 chỉ vàng 24K loại 98% hai bên có làm giấy tờ mua bán nhưng đến khi ông Đ1 đã được sang tên thì không còn giữ giấy tờ nữa, đã bỏ thất lạc mất hết. Năm 2007 ông S ngang nhiên chiếm lại phần đất đã bán để cất nhà tạm ở và chăn nuôi gà, nguyên đơn có ngăn cản có báo chính quyền địa phương và được hòa giải tại ấp T, xã T cũ vào ngày 09/6/2008, đến ngày 14/8/2008 tiến hành hòa giải tại xã T nhưng không thành.
Ngày 21/11/2021 ông Đ1 chết. Sau đó gia đình đi làm thủ tục thừa kế, khi cán bộ đến đo đạc thửa đất thì ông S ngăn cản. Bà Nguyễn Thị P là vợ ông Đ1 và 02 con tên Dương Trọng L, Dương Thành N là thành viên hộ gia đình ông Đ1 và cũng là hàng thừa kế của ông Đ1. Ngoài ra, không còn ai nữa. Hiện nay, giấy chứng nhận QSD đất đối với thửa 802 nguyên đơn đang quản lý và không cầm cố thế chấp cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Đối với các kết quả thẩm định, định giá tài sản do Tòa án thành lập Hội đồng và bản trích đo địa chính số 1129/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 có xác nhận của Trung tâm K1 ngày 02/10/2023 nguyên đơn thống nhất làm căn cứ giải quyết vụ án.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ và anh H có trách nhiệm tháo dở tài sản trả lại diện tích đất cho nguyên đơn theo đo đạc thực tế 230m² ODT thửa 802¹, phần diện tích 41.8m² đường giao thông nguyên đơn không yêu cầu. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý.
Đại diện ủy quyền cho bị đơn Võ Văn S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị Đ và Võ Trí H cùng thống nhất trình bày tại biên bản hoà giải ngày 18/10/2023:
Về nguồn gốc đất tranh chấp thửa 802, bị đơn được cha tên Võ Thiện Đ2 cho sử dụng, cho đến năm 1973 ông S cưới vợ và cất nhà tạm trên đất để sống. Do làm ăn bị thất bại nên 1990 ông S có cố cho ông Đ1 03 công đất ruộng phía sau nhà thuộc thửa 799 giá 08 chỉ vàng 24K. Việc cố đất hai bên không làm giấy tờ mà chỉ thỏa thuận bằng lời nói, cố không thời hạn khi nào có điều kiện thì chuộc lại đất và cũng không ai biết việc hai bên cố đất.
Năm 2020 khi ông Đ1 khởi kiện tranh chấp đất với ông S thì mới biết năm 1997 ông Dương Tấn Đ1 đã đứng tên chủ sử dụng đất thửa đất ông S cố cho ông Đ1 (thửa 799) và làm trùm luôn thửa 802. Đối với thửa 799 bị đơn không có yêu cầu gì. Ông S sử dụng thửa 802 từ năm 1973 liên tục cho đến nay không có đi đâu. Trên đất tranh chấp hiện bị đơn sống chung với vợ là bà Đ và con trai tên H.
Trên đất tranh chấp có tổng cộng 03 ngôi mộ: mộ đất cuả người lạ không biết của ai ông Võ Thiện Đ2 cho chôn trước 1990, mộ của con ruột ông S chết lúc 07 tuổi chôn vào năm 1993 và mộ cháu nội ông S chết lúc 04 tuổi chôn vào năm 2007. Mộ của con và cháu ông S được chôn không làm tháp mộ mà chỉ xây thành 01 nền bê tông với diện tích 7.68m² nên nhìn vào không biết là mồ mã. Lý do xây như vậy do người chết lúc còn nhỏ. Từ trước đến nay, gia đình nguyên đơn chưa sử dụng đất tranh chấp và khi bị đơn chôn cất con cháu và sau đó có làm thêm mái che tạm phía nguyên đơn cũng không ai biết.
Tại biên bản hoà giải ngày 20/12/2023 bị đơn trình bày nguyên đơn đứng tên giấy chứng nhận QSD đất bị đơn không hay đến năm 2008 ban N2, xã T mời ông S lên hoà giải thì mới biết. Lúc đó ông S đã cất nhà trên phần đất tranh chấp vào năm 2003. Trước năm 2003 ông S sinh sống bên vợ ở Trung Kiên cho đến năm 2003 về phần đất tranh chấp sống cho đến nay. Trên đất tranh chấp có 03 ngôi mộ, 01 ngôi mộ đất đã được chôn từ lâu không nhớ thời gian và không biết của ai, 01 ngôi mộ của cháu ông S chôn khoảng năm 2008, 01 ngôi mộ của con ông S chôn năm 2003.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý và có yêu cầu phản tố đề nghị công nhận cho bị đơn phần đất đang sử dụng diện tích 230m² loại đất ODT cho bị đơn. Đối với diện tích đất 41.8m² đường giao thông bị đơn không yêu cầu giải quyết.
Đối với các kết quả thẩm định, định giá và bản trích đo địa chính số 1129/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 có xác nhận của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K1 ngày 02/10/2023 bị đơn thống nhất làm căn cứ giải quyết.
Người làm chứng:
- Bà Huỳnh Thị Xuân H1, ông Lê Văn K, ông Đỗ Văn L2, bà Lê Thị H2, ông Nguyễn Thanh H3, ông Nguyễn Đăng H4 và ông Võ Văn N1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 13/10/2023 như sau:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của cha ông Võ Văn S cho lại ông S sử dụng và cất nhà ở bằng gỗ tạp lợp lá khoảng 20 năm. Thời gian ông S sử dụng đất liên tục không có đi đâu, còn việc ông S có bán đất cho ông Đ1 không thì không biết. Phía sau nhà ông S có chôn cất 02 người (con ruột ông S và cháu nội đều chết lúc còn nhỏ). Ngoài căn nhà trên đất tranh chấp thì ông S có phần đất nào khác nữa không thì không biết. Tất cả đều đề nghị vắng mặt trong các giai đoạn tố tụng tại các cấp Tòa án và đối chất (nếu có).
Phần các đương sự trình bày tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đại diện uỷ quyền ông Nguyễn Tùng L1: nguyên đơn vẫn giữ nguyên lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ và anh H có trách nhiệm tháo dở tài sản trả lại diện tích đất cho nguyên đơn 230m² ODT thửa 802¹ đối với 41.8m² đường giao thông không yêu cầu giải quyết. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn nguyên đơn không đồng ý, đề nghị bác yêu cầu của bị đơn. Nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho bị đơn 10.000.000đ chi phí di dời.
Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận QSD đất lần đầu, sau đó nguyên đơn chuyển nhượng đất cho người khác và được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất. Đất tranh chấp nguyên đơn có sử dụng và cho đến năm 2003 nguyên đơn chuyển nhượng thửa 799 là thửa đất lúa nên ít tới lui do không làm ruộng, nhà nguyên đơn ở chỗ khác. Năm 2007 thì phát hiện bị đơn cất nhà bao chiếm đến năm 2008 có đề nghị địa phương giải quyết nhưng không thoả thuận được. Bị đơn sử dụng đất không thuộc trường hợp chiếm hữu ngay tình. Đối với cây trồng trên đất tranh chấp là của bị đơn, ai được công nhận QSD đất thì sẽ được quyền sử dụng cây trồng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Bị đơn phản tố đề nghị công nhận cho bị đơn phần đất đang sử dụng diện tích 230m² loại đất ODT cho bị đơn. Đối với diện tích đất 41.8m² đường giao thông bị đơn không yêu cầu giải quyết. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do:
Đất bị đơn không có chuyển nhượng, do bị đơn cố đất cho nguyên đơn nhưng không có tiền chuộc lại. Năm 1990 ông Dương Tấn Đ1 làm đơn xin đăng ký QSD đất nhưng không được phê duyệt. Năm 1991 nhà nước có chủ trương cấp đất đại trà nên ông Đ1 xin đăng ký. Do ông S không quan tâm đến việc đăng ký đất, ông S không tranh chấp nên ông Đ1 được ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất. Thời điểm này, nếu ai có khiếu nại về việc cấp giấy thì sẽ bị huỷ giấy chứng nhận, nhưng ông S không có khiếu nại. Sau đó, ông Đ1 chuyển nhượng đất cho ông Đinh Văn M. Đối với văn bản trả lời của ủy ban nhân dân quận T về việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông Đ1 phía bị đơn hoàn toàn thống nhất.
Bị đơn Võ Văn S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị Đ và Võ Trí H có đại diện uỷ quyền bà Lê Thị P1:
Phần đất tranh chấp trước đây nguyên đơn có sử dụng. Trên đất tranh chấp không có tài sản của nguyên đơn. Bị đơn cất nhà trên phần đất tranh chấp từ năm 2003, có làm một ngôi mộ là con bị đơn vào năm 2003 và cháu bị đơn vào năm 2011, riêng đối với 01 ngôi mộ đất là của người lạ đã có từ lâu, không liên quan đến gia đình bị đơn. Bị đơn không có chuyển nhượng đất cho nguyên đơn, chỉ có cố đất cho nguyên đơn giá 08 chỉ vàng 24K tại thửa 799, nhưng nguyên đơn đã làm giấy chứng nhận QSD đất thửa 799 và làm bao trùm luôn thửa 802. Thửa 799 nguyên đơn chuyển nhượng cho ông M bị đơn biết nhưng không ý kiến. Phần đất còn lại thửa 802 của gia đình nguyên đơn bị đơn không yêu cầu. Đối với cây trồng trên đất tranh chấp thì ai được công nhận QSD đất thì sẽ được sử dụng cây trồng mà không phải trả lại giá trị. Ngoài phần đất tranh chấp bị đơn cũng không còn đất khác.
Các đương sự đều thống nhất với kết quả thẩm định, định giá ngày 24/01/2024 và Bản trích đo địa chính để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS - ST ngày 22/3/2024 Tòa án nhân dân quận Thốt nốt đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, anh Dương Trọng L, anh Dương Thành N.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn S.
Bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H được quyền sử dụng phần đất có diện tích 103.4m² (vị trí A) loại đất ODT theo bản trích đo địa chính, thuộc một phần thửa đất 802, tờ bản đồ số 7, do ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 cho hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên. Đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T cũ, nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Buộc bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H có trách nhiệm liên đới bồi hoàn cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, anh Dương Trọng L, anh Dương Thành N giá trị QSD đất với số tiền 217.140.000đ (hai trăm mười bảy triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).
Buộc bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H cùng có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất còn lại có diện tích 126.6m² ODT vị trí B thuộc một phần thửa 802, tờ bản đồ số 7, do ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 cho hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên. Đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T cũ, nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, anh Dương Trọng L, anh Dương Thành N được quyền sử dụng 01 cây gòn đường kính gốc lớn hơn 30cm, 01 cây bưởi (B), 01 cây xoài (B).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án chậm trả số tiền trên, còn phải chịu lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/01/2024 và bản trích đo địa chính số 1129/2023/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 có xác nhận của Trung tâm K1 ngày 02/10/2023 và bản trích đo địa chính số 90/TTKTTNMT ngày 09/01/2024 có xác nhận của Trung tâm K1 ngày 26/01/2024 để xác định vị trí, kích thước phần đất, tài sản tranh chấp.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định và có trách nhiệm nộp phí, lệ phí (nếu có), khi đã thực hiện xong nghĩa vụ theo nội dung đã tuyên.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về về nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chi phí tố tụng; án phí dân sự sơ thẩm; quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Không đồng ý với bản án nêu trên, nguyên đơn, bị đơn có đơn kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố, yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp thêm chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét nội dung kháng của nguyên đơn và bị đơn nhận thấy:
Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 271,8m² (loại đất ODT, trong đó có 41.8m² đường giao thông), các đương sự thống nhất phần đất 41,8m² đường giao thông không tranh chấp, nên diện tích tranh chấp còn lại là 230m² thuộc một phần thửa 802, đất tọa lạc tại khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Về nguồn gốc đất, ông Dương Tấn Đ1 đứng tên sổ đăng ký ruộng đất, sổ mục kê ruộng đất năm 1991. Ngày 25/4/1991 ông Dương Tấn Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất số 7502/GCN/RÐ tại thửa đất 802 diện tích 575m² (loại đất T) và thửa 799 diện tích 4.900m² (loại đất 2L) Sau đó ông Đ1 lập thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), ngày 06/10/1997 UBND huyện T (cũ) cấp GCNQSDĐ số 000399 do Dương Tấn Đ1 đại diện hộ gia đình đứng tên, thửa 802 diện tích 575m² (275m² đất LNK và 300m² đất T), thửa 799 diện tích không thay đổi. Năm 2002, hộ ông Đ1 chuyển nhượng thửa 799 cho người khác cho ông Đinh Văn M, đồng thời hộ gia đình ông Đ1 được cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa 802, số 00192 ngày 20/01/2003, diện tích đất không thay đổi.
Nguyên đơn cho rằng, các phần đất trên do ông Đ1 nhận chuyển nhượng từ ông Võ Văn S vào khoảng năm 1989, giá 08 chỉ vàng 24K, hai bên có làm giấy tờ mua bán, sau đó được cấp GCNQSDĐ nên giấy mua bán không còn giữ.
Bị đơn ông S thì cho rằng chỉ cầm cố cho ông Đ1 thửa 799 giá 08 chỉ vàng 24K, không chuyển nhượng cho ông Đ1; việc ông Đ1 được cấp GCNQSDĐ thửa 799 là bao trùm thửa 802, bị đơn không biết.
Tuy nhiên, lời trình bày của bị đơn lại không thống nhất nhau; cụ thể, tại biên bản hoà giải ngày 18/10/2023, bị đơn khai phần đất tranh chấp bị đơn được cha tên Võ Thiện Đ2 cho và sử dụng đến năm 1973 cưới vợ và cất nhà tạm trên đất để sống từ năm 1973 liên tục cho đến nay, nhưng tại biên bản hòa giải ngày 20/12/2023 và tại phiên toà bị đơn lại khai: ông S đã cất nhà trên phần đất tranh chấp vào năm 2003. Trước năm 2003 thì sinh sống bên vợ ở T cho đến năm 2003 mới về phần đất tranh chấp sinh sống cho đến nay. Tại biên bản xác minh của Toà án cấp sơ thẩm ngày 26/6/2023 địa phương cho biết ông S ở trên đất tranh chấp vào khoảng năm 2003 đến nay; trước đây, ông S sinh sống tại T, T.
Bị đơn cho rằng chỉ cầm cố thửa 799, nhưng phía ông Đ1 được cấp GCNQSDĐ 02 đối với 02 thửa đất, đồng thời đã chuyển nhượng thửa 799 cho ông M, bị đơn đều biết nhưng cũng không phản đối.
Năm 2008, các bên xảy ra tranh chấp, ông Đ1 yêu cầu bị đơn trả đất, thời điểm này bị đơn biết rõ ông Đ1 đã được cấp GCNQSDĐ đối với 02 thửa đất, nhưng sau đó bị đơn cùng không khởi kiện yêu cầu trả đất.
Bị đơn cho rằng chỉ cầm cố đất, nhưng bị đơn cũng không thực hiện việc kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa 802 hiện do gia đình ông Đ1 quản lý, sử dụng một phần, nhưng bị đơn cũng không có ý kiến.
Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định, phía ông S đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ1, nên ông Đ1 đã kê khai trong Sổ mục kê, Sổ đăng ký ruộng đất năm 1991, được cấp GCNQSDĐ lần đầu vào năm 1991, cấp đổi GCNQSDĐ năm 1997, sau đó chuyển nhượng cho người khác một thửa đất và được cấp mới GCNQSDĐ năm 2003, không ai phản đối, khiếu nại. Nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình ông S trả lại phần đất đã chiếm sử dụng là có cơ sở xem xét.
Trên đất tranh chấp gia đình ông S đã xây dựng nhà ở từ năm 2003, gia đình ông S cũng không còn chỗ ở nào khác, nên Tòa án cấp sơ thẩm ổn định phần đất có diện tích 103,4m² (loại đất ODT) tại vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 90/TTKTTNMT ngày 26/01/2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố K1 (Bản trích đo địa chính số 90), gia đình ông S phải trả giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo giá thị trường là phù hợp. Phần đất còn lại có những tài sản phát sinh sau khi Tòa án cấp sơ thẩm đã thẩm định, gia đình ông S phải tháo dỡ, di dời trả lại đất cho nguyên đơn.
Đối với kháng cáo của nguyên đơn không đồng ý với Bản trích đo địa chính số 90. Nhận thấy, Bản trích đo địa chính số 90 được phát hành từ Bản trích đo địa chính số 1129/TTKTTNMT ngày 02/10/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố K1 (Bản trích đo địa chính số 1129); Bản trích đo địa chính số 90 chỉ tách phần diện tích ông S sử dụng từ năm 2003, có nhà, vật kiến trúc trên đất; số liệu tổng diện tích tranh chấp vẫn không thay đổi so với Bản trích đo địa chính số 1129, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ 02 Bản trích đo địa chính nêu trên đề giải quyết là không sai.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn và bị đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
- Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Theo đơn kháng cáo và lời trình bày của đại diện ủy quyền nguyên đơn xác định, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, cụ thể: Không chấp nhận bản trích đo địa chính số 90/TTKTTNMT ngày 26/01/2024 của Trung tâm K1; buộc bị đơn và những người liên quan bà Đ, ông H tháo dở tài sản trên đất trả lại cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất tranh chấp của thửa 802² diện tích 271.8m².
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn và những người liên quan bà Đ, ông H tháo dở tài sản trả lại cho nguyên đơn toàn bộ diện tích đất tranh chấp của thửa 802² diện tích 271.8m². Nhận thấy, phần đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thửa 802 theo hồ sơ thể hiện: Ông Dương Tấn Đ1 đứng tên sổ đăng ký ruộng đất, sổ mục kê ruộng đất. Ngày 25/4/1991 ông Dương Tấn Đ1 làm đơn xin đăng ký QSD đất và được cấp giấy chứng nhận QSD ruộng đất số 7502/GCN/RÐ tại thửa đất 802 diện tích 575m² T và thửa 799. Ngày 18/9/1991 ông Đ1 làm đơn xin đổi giấy chứng nhận QSD đất và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất số 000399 cho hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên ngày 06/10/1997 đối với thửa 802 (275m² LNK + 300m² T). Năm 2002 hộ ông Đ1 chuyển nhượng QSD đất thửa 799 cho người khác và cấp lại thửa 802 do hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003. Bị đơn cho rằng, về nguồn gốc đất thửa đất này là bị đơn được cha mẹ cho và chỉ cầm cố đất cho nguyên đơn chứ không có chuyển nhượng. Tuy nhiên, bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh quyền sử dụng đất (Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất) cũng như chứng cứ về việc cầm cố. Mặt khác, vào năm 2008 khi bị đơn xây nhà trên phần đất tranh chấp thì giữa bị đơn và ông Đ1 (cha nguyên đơn) có phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đối với thửa đất này. Mặc dù, nguyên đơn không khởi kiện đến Tòa án nhưng tại thời điểm đó bị đơn đã biết nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên bị đơn không thực hiện quyền khiếu nại về việc cấp giấy cho nguyên đơn cũng như như không khởi kiện để đòi lại quyền sử dụng đất.
- Tại công văn số 3143/UBND-NC ngày 21/11/2023 của Ủy ban nhân dân quận T xác định: Nguồn gốc thửa 802 của hộ Dương Tấn Đ1 là do kê khai, đăng ký vào sổ bộ địa chính năm 1990. Việc Ủy ban nhân dân huyện T (trước đây) cấp giấy chứng nhận QSD đất số 000399 ngày 06/10/1997 và cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 cho hộ Dương Tấn Đ1 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Phía bị đơn cũng thống nhất với văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân quận T.
Từ những cơ sở trên cho thấy gia đình nguyên đơn có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình. Tuy nhiên xét thấy, căn cứ vào “Tờ xác nhận” ngày 26/12/2022 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T thì bị đơn và gia đình đã có thời gian sử dụng ổn định trên phần đất tranh chấp từ 2007 đến nay, quá trình sử dụng đất bị đơn đã bồi đắp nâng nền làm tăng thêm giá trị đất. Hiện tại, gia đình bị đơn cũng không còn nơi ở nào khác. Hơn nữa, trên đất tranh chấp còn có 02 ngôi mộ không làm tháp mộ mà được xây thành một nền betong bằng phẳng (theo bị đơn khai là mộ). Mặc dù, nguyên đơn không thừa nhận phần nền bê tông là mộ, nhưng những người làm chứng như bà H1, ông K, ông L2, bà H2, ông H3, ông H4, ông N1 xác định có 02 ngôi mộ của con và cháu ông S. Mặt khác, vào năm 2008 khi ông Đ1 và ông S phát sinh tranh chấp, ông Đ1 có thể hiện ý chí đồng ý cho ông S 01 phần đất để ở có diện tích ngang 05m x dài hết đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ổn định cho ông S cùng gia đình 01 phần thửa đất tranh chấp và ông S cùng gia đình có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị cho nguyên đơn là có có cơ sở.
- Đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc không chấp nhận bản trích đo địa chính số 90/TTKTTNMT ngày 26/01/2024 của Trung tâm K1. Nhận thấy, theo hồ sơ thể hiện có 02 bản trích đo địa chính tuy nhiên về diện tích đất không có sự thay đổi. Bản trích đo địa chính số chỉ bổ sung thêm về hiện trạng thực tế sử dụng đất của bị đơn, các số liệu tổng thể khác không thay đổi so với bản trích đo địa chính số 1129. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm sử dụng 02 bản trích đo địa chính này là cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp.
- Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, như đã nhận định trên, nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất tranh chấp là đúng quy định. Bị đơn không có chứng cứ gì chứng minh quyền sử dụng đất cũng như chứng cứ về việc cầm cố nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng thửa đất 802 là có căn cứ.
- Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không được chấp nhận.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí dân sự phú thẩm: Bà Nguyễn Thị P, ông Võ văn S2 thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định. Ông Dương Trọng L, ông Dương Thành N mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông L, ông N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005274 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Ông L, ông N mỗi người phải nộp thêm 150.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, Ông Dương Trọng L, ông Dương Thành N.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn S.
- Giữ nguyên án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 22/3/2024 Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, ông Dương Trọng L, ông Dương Thành N.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Võ Văn S.
- Bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H được quyền sử dụng phần đất có diện tích 103.4m² (vị trí A) loại đất ODT theo bản trích đo địa chính, thuộc một phần thửa đất 802, tờ bản đồ số 7, do ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 cho hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên. Đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T cũ, nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Buộc bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H có trách nhiệm liên đới bồi hoàn cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, anh Dương Trọng L, anh Dương Thành N giá trị QSD đất với số tiền 217.140.000đ (hai trăm mười bảy triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).
Buộc bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ và anh Võ Trí H cùng có trách nhiệm di dời toàn bộ tài sản để trả lại phần đất còn lại có diện tích 126.6m² ODT vị trí B thuộc một phần thửa 802, tờ bản đồ số 7, do ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00192 ngày 20/01/2003 cho hộ Dương Tấn Đ1 đứng tên. Đất tọa lạc ấp T, xã T, huyện T cũ, nay là khu vực Tràng Thọ B, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P, anh Dương Trọng L, anh Dương Thành N được quyền sử dụng 01 cây gòn đường kính gốc lớn hơn 30cm, 01 cây bưởi (B), 01 cây xoài (B).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án chậm trả số tiền trên, còn phải chịu lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá tài sản do Tòa án lập ngày 24/01/2024 và bản trích đo địa chính số 1129/2023/TTKTTNMT ngày 25/9/2023 có xác nhận của Trung tâm K1 ngày 02/10/2023 và bản trích đo địa chính số 90/TTKTTNMT ngày 09/01/2024 có xác nhận của Trung tâm K1 ngày 26/01/2024 để xác định vị trí, kích thước phần đất, tài sản tranh chấp.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận QSD đất theo quy định và có trách nhiệm nộp phí, lệ phí (nếu có), khi đã thực hiện xong nghĩa vụ theo nội dung đã tuyên.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, định giá và lệ phí bản vẽ địa chính: Hội đồng chi các khoản hết 7.255.000 đồng (bảy triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng), trong đó nguyên đơn đã nộp 5.255.000 đồng (năm triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng), bị đơn đã nộp 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và chi xong. Bị đơn ông Võ Văn S phải chịu và có trách nhiệm nộp để chuyển trả cho nguyên đơn số tiền 5.255.000 đồng (năm triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Dương Trọng L và ông Dương Thành N được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004796 ngày 30/11/2022 và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004189 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn ông Võ Văn S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Đ được miễn án phí do là người cao tuổi theo quy định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Võ Trí H phải chịu 3.619.000 đồng (ba triệu sáu trăm mười chín nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị P, ông Võ Văn S được miễn án phí theo quy định. Ông Dương Trọng L, ông Dương Thành N mỗi người phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Ông L, ông N được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005274 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Ông L, ông N mỗi người phải nộp thêm 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Loan |
Bản án số 351/2024/DSPT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 351/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pha - Sơn - Tranh chấp QSD đất
