|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 351/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2024. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Mai Hoa |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hoàn |
| Bà Nguyễn Thị Tuyết |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 386/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 425/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1993,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn L, sinh năm 1983,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Vũ Thị T, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn K, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
+ Bà Bùi Thị D, sinh năm 1955, địa chỉ: Khu C, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
2
Chị H, anh L, bà T, bà D đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, chị Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 17/12/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, do hoàn cảnh kinh tế nên năm 2022 chồng chị làm thủ tục đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian đầu chị vẫn thường xuyên liên lạc nói chuyện và quan tâm tới cuộc sống của chồng. Nhưng do xa cách tình cảm vợ chồng nhạt dần đến giữa năm 2023 thì anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Đỉnh điểm đến gần cuối năm 2023 vợ chồng đã xảy ra tranh cãi nên không còn nói chuyện với nhau, dần dần anh chị đã không còn liên lạc. Hai bên gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng vợ chồng không hàn gắn được. Tháng 12/2023 chị cũng làm thủ tục sang Đài Loan lao động, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.
- Về con chung: Chị và anh L có 03 con chung là Vũ Chi M, sinh ngày 14/8/2013, Vũ Hoàng M1, sinh ngày 29/01/2015 và Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019. Vợ chồng thống nhất thỏa thuận ly hôn chị là người nuôi dưỡng cháu L1, anh L là người nuôi dưỡng cháu M, cháu M1. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Trong thời gian anh chị không có nhà, tạm giao cháu L1 cho bà Vũ Thị T là mẹ đẻ của chị chăm sóc, tạm giao cháu M, cháu M1 cho bà Bùi Thị D là mẹ đẻ của anh L chăm sóc cho đến khi anh chị về nước.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị D (mẹ đẻ anh Vũ Văn L) trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L như chị H trình bày là đúng. Hiện nay, anh L đang làm việc tại Đài Loan, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo cho anh L biết về việc chị H có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của anh L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung, anh L xác định ly hôn anh nuôi dưỡng cháu Vũ Chi M, sinh ngày 14/8/2013, cháu Vũ Hoàng M1, sinh ngày 29/01/2015, chị H nuôi dưỡng cháu Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Anh L đang ở nước ngoài nên nhờ bà chăm sóc các con chung cho đến khi anh L về nước, bà nhất trí. Anh L xác định chưa yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền mà chị H đã lấy của anh L, ngoài ra vợ chồng anh
3
chị không có tài sản chung nào khác. Hiện nay, anh L đang đi làm xa, các văn bản Tòa án gửi cho anh L đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh L.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T (mẹ đẻ chị Phạm Thị H) trình bày: Bà đã thông báo cho chị H về việc Tòa án đã thụ lý vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị H và anh L. Chị H đang ở nước ngoài nên nhờ bà chăm sóc các con chung là cháu Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019 cho đến khi chị H về nước, bà nhất trí.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H và có quan điểm xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn anh Luật vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T, bà D có quan điểm xin vắng mặt.
* Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L; Giao cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Chi M, sinh ngày 14/8/2013, cháu Vũ Hoàng M1, sinh ngày 29/01/2015, giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019 cho đến khi con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu M, cháu M1 cho bà Bùi Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L không ở Việt Nam; Tạm giao cháu L1 cho bà Vũ Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam; Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Phạm Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị với anh Vũ Văn L. Anh L và chị H hiện
4
đều đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh L tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh L cung cấp địa chỉ nhưng chị H không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh L có liên lạc về gia đình, gia đình anh L không cung cấp được địa chỉ của anh L tại Đài Loan. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị H, bà T, bà D đều có quan điểm xin xét xử vắng mặt, anh L vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh L và bà T, bà D.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương vào ngày 17/12/2012 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 anh L đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Thời gian xa cách vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do không có tiếng nói chung. Chị H xác định không còn tình cảm với anh L và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình anh L có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Mặc dù vợ chồng cùng làm việc tại Đài Loan nhưng không chung sống cùng nhau và không liên lạc với nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh L là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H và anh L có 03 con chung Vũ Chi M, sinh ngày 14/8/2013, Vũ Hoàng M1, sinh ngày 29/01/2015 và Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019. Ly hôn chị H và anh L cùng có quan điểm để anh L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Vũ Chi M, Vũ Hoàng M1, còn chị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Nhật L1.
Xét thấy, cháu L1 đang có cuộc sống ổn định cùng gia đình nhà chị H tại Bắc Giang; cháu M, cháu M1 đang có cuộc sống ổn định cùng gia đình anh L và đều có nguyện vọng được ở cùng bố là anh L. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung cần chấp nhận đề nghị của chị H và anh L. Giao cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1; Giao cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, cháu M1. Tạm giao cháu M, cháu M1 cho bà Bùi Thị D chăm sóc, nuôi
5
dưỡng và tạm giao cháu L1 cho bà Vũ Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L, chị H không ở Việt Nam. Chấp nhận đề nghị của anh L và chị H các bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn L được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có đề nghị chia tài sản thì được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Vũ Văn L.
- Về con chung: Giao anh Vũ Văn L tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Chi M, sinh ngày 14/8/2013, Vũ Hoàng M1, sinh ngày 29/01/2015; Giao chị Phạm Thị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Vũ Nhật L1, sinh ngày 15/7/2019 thời gian từ tháng 9/2024 cho đến khi các con chung trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.
Tạm giao cháu Vũ Chi M, Vũ Hoàng M1 cho bà Bùi Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L không ở Việt Nam.
Tạm giao cháu Vũ Nhật L1 cho bà Vũ Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam.
Chị Phạm Thị H, anh Vũ Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung
6
mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000868 ngày 16/7/2024 (bà T đã nộp thay chị H đủ án phí).
- Về quyền kháng cáo: Bà T, bà D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị H, anh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 351/2024/HNGĐ-ST ngày 08/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 351/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H xin ly hôn Vũ Văn L và tranh chấp nuôi con chung
