|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 351/2024/HS-ST
Ngày: 02/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Minh Thân;
Ông Ông Phan Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 305/2024/TLST-HS ngày 08/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2024/QĐXXST-HS ngày 08 11/2024 và đối với các bị cáo:
1. Đoàn Thị Kim O, sinh năm 1976. Nơi thường trú: Khu C, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn Xuân H (Đã chết); con bà: Hoàng Thị C (Đã chết). Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 07. Chồng: Đàm Xuân Đ, sinh năm 1974 (đã ly hôn): con: Đàm Thùy L, sinh năm 1997. Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 258 ngày 25/6/2005 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xử phạt 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2007; đã nộp án phí (đã được xóa án tích).
- Bản án số 253 ngày 18/7/2008 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2010; đã nộp án phí (đã được xóa án tích).
- Bản án số 265 ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội, xử phạt 20 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2020; đã nộp án phí (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 25/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trạm giam số A1 – Công an Thành phố H.
2. Hoàng Văn C1, sinh năm 1997. Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T; Con bà: La Thị T1. Gia đình có 02 anh em. Bị cáo là con thứ nhất. Vợ: La Thị T2, sinh năm 2003 (đã ly hôn); Con: 02 con, lớn sinh năm 2020 và nhỏ sinh năm 2023. Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 25/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C1: Bà Nguyễn Thị Thanh X - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt).
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 ngày 24/6/2024, Công an phường M, N, Hà Nội trên đường đi làm nhiệm vụ khi đi đến khu vực cây xăng L1 thuộc phường P, Quận N, thành phố Hà Nội phát hiện 02 nam thanh niên di chuyển trên xe máy Honda Dream BKS: 18D1 - 42646 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Người điều khiển xe máy khai tên là Ngô Tuấn A (Sinh năm: 2001, HKTT: xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) làm nghề lái xe ôm đang chở khách, còn người ngồi sau tên Hoàng Văn C1. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của C1 có 01 túi nilong màu vàng chứa chất bột màu trắng, C1 khai nhận chất bột màu trắng là ma tuý Heroine mang theo để sử dụng. Công an phường M tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và dẫn giải Hoàng Văn C1 về trụ sở để xác minh, làm rõ.
Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra xác định người đã bán ma túy cho Hoàng Văn C1 là Đoàn Thị Kim O nên Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ khẩn cấp đối với O để điều tra làm rõ .
Vật chứng, thu giữ của Hoàng Văn C1: 01 túi nilong màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy); 01 điện thoại di động Sonas A7, gắn 01 sim
(BL: 57, 98). Thu giữ của Đoàn Thị Kim O: 01 điện thoại Samsung A53, gắn 01 sim; 01 xe máy Honda Click BKS: 29U1-003.12
Tại Bản kết luận giám định số 4868/KLGĐ-PC09 ngày 04/7/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi niong màu vàng là ma tuý loại Heroin, khối lượng 0,207 gam.
Quá trình điều tra xác định: Hoàng Văn C1 là đối tượng nghiện ma túy H1 và hiện đang làm công nhân xây dựng trên địa bàn quận N. Năm 2023, C1 có quen biết với Đoàn Thị Kim O và biết O có bán ma túy. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, C1 sử dụng số điện thoại 0565.630.xxx gọi đến số điện thoại 0369.983.xxx của O và hỏi mua của O 300.000 đồng ma tuý Heroine, O đồng ý và hẹn C1 đến ngõ A V, phường V, H, Hà Nội để giao dịch. Sau đó, C1 thuê xe ôm là anh Ngô Tuấn A chở đến ngõ A V. Đến 15 giờ cùng ngày, C1 đến đầu ngõ A V và gọi điện lại cho O thì được O hướng dẫn vào khu vực cổng đình T (trong ngõ A V, phường V, H, Hà Nội) để nhận ma túy. Sau đó, C1 một mình đi bộ vào khu vực cổng đình T gặp O nhận 01 túi ma túy H1 và trả cho O 300.000 đồng tiền mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, C1 cất giấu ma túy trong túi quần bên phải và đi ra gặp Tuấn A và bảo chở về công trình xây đựng chung cư V. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ngô Tuấn A đang chở C1 đi đến khu vực cây xăng đường L thuộc phường P, N, Hà Nội thì bị Công an phường M phát hiện, bắt quả tang .
Về nguồn gốc số ma túy O đã bán cho C1, quá trình điều tra xác định: O nghiện ma túy Heroine nên thường mua ma túy của một người phụ nữ ở khu vực bãi tập kết rác A, phường Y, T, Hà Nội để sử dụng. Ngày 24/6/2024, sau khi C1 hỏi mua, O đã điều khiển xe máy Honda Click, BKS: 29U1-003.12 đi đến địa điểm trên gặp người phụ nữ này và mua được 01 túi ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Sau đó, O mang về nhà chia túi ma túy mua được thành 02 phần, một phần O đã sử dụng hết, phần còn lại O cho vào túi nilong màu vàng và đi xe máy trên mang phần ma túy còn lại bán cho C1 với giá 300.000 đồng. Cơ quan điều tra đã rà soát tại khu vực bãi tập kết rác A, nhưng không phát hiện và không có thông tin gì về người phụ nữ đã bán ma túy cho O nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý .
Đối với Ngô Tuấn A, người chở C1 đi mua ma túy, nhưng Tuấn A không biết Cấp cất giấu ma túy trong người và không biết Cấp mua bán ma túy của O nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với xe máy Honda Click, BKS: 29U1-003.12. Quá trình điều tra, xác định: xe máy đăng ký tên chị Phan Thị Y (Sinh năm: 1988; HKTT: Tổ E, phường M, quận H, Hà Nội). Chị Y1 mua xe máy vào tháng 4 năm 2011, sau đó do không có nhu cầu
sử dụng nên đến tháng 6 năm 2021 chị Y đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết với giá là 7.000.000 đồng kèm theo đăng ký và giấy tờ liên quan đến xe. Quá trình điều tra O khai nhận xe máy trên là của O (O không nhớ mua bao nhiêu tiền và mua ngày tháng năm nào) do đó Cơ quan điều tra đã chuyển xe máy trên cùng vật chứng để xử lý theo pháp luật
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn C1 và Đoàn Thị Kim O khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị caó phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Đoàn Thị Kim O và Hoàng Văn C1 khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo O thừa nhận việc mua ma túy về bán để kiếm lời. Bị cáo C1 mua ma túy về để sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 304/CT-VKSNTL ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Đoàn Thị Kim O phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Hoàng Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249.
Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 304/CT-VKSNTL ngày 06/11/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim O phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Hoàng Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249.
+ Đề nghị: Áp dụng khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim O từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
+ Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Hoàng Văn C1, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng K - C2.
Sung công quỹ nhà nước:
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Sonas A7 lắp 01 sim.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A53 lắp 01 sim.
+ 01 xe máy kiểu dáng Honda Click gắn BKS: 2U1- 003.12; số máy: 0275939, số khung: 821633.
+ Truy thu của bị cáo O 300.000 đồng tiền bán ma túy ngày 24/06/2024.
Hình phạt bổ sung: Không.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn C1 trình bày:
Về tội danh: không có ý kiến gì về tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Hoàng Văn C1.
Về hình phạt đối với bị cáo Hoàng Văn C1 mà Viện kiểm sát đề nghị: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, phạm tội lần đầu. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và mong muốn được sửa chữa lỗi lầm, sớm được tái hòa nhập cộng đồng để làm một công dân tốt cho xã hội. Do vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Hoàng Văn C1 tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội. Về án phí: Bị cáo C1 là người dân tộc thiểu số nên đề nghị HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo, đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Đoàn Thị Kim O và Hoàng Văn C1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ
quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 15 giờ ngày 24/6/2024, tại khu vực cổng đình T ngõ A V, phường V, H, Hà Nội, Đoàn Thị Kim O đã có hành vi bán trái phép 0,207 gam ma tuý loại Heroine cho Hoàng Văn C1 để sử dụng. Sau khi mua được số ma túy trên Cấp cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi đi về. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi C1 về đến khu vực cây xăng L1 thuộc phường P, quận N, Hà Nội thì bị Công an phường M phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Đoàn Thị Kim O đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn C1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Đoàn Thị Kim O và Hoàng Văn C1 gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Các bị cáo đều biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại cho sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh HIV, AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác.
Về nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:
+ Bị cáo Đoàn Thị Kim O có nhân thân xấu, cụ thể: Bản án số 258 ngày 25/6/2005 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xử phạt 30 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2007; đã nộp án phí (đã được xóa án tích); Bản án số 253 ngày 18/7/2008 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/4/2010; đã nộp án phí (đã được xóa án tích).; Bản án số 265 ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội, xử phạt 20 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2020; đã nộp án phí (đã được xóa án tích).
+ Bị cáo Hoàng Văn C1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
+ Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, các bị cáo có đủ năng lực, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục để cải tạo các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
+ Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng;
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy O đã bán cho C1, quá trình điều tra xác định: O nghiện ma túy Heroine nên thường mua ma túy của một người phụ nữ ở khu vực bãi tập kết rác A, phường Y, T, Hà Nội để sử dụng. Ngày 24/6/2024, sau khi C1 hỏi mua, O đã điều khiển xe máy Honda Click, BKS: 29U1-003.12 đi đến địa điểm trên gặp người phụ nữ này và mua được 01 túi ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Sau đó, O mang về nhà chia túi ma túy mua được thành 02 phần, một phần O đã sử dụng hết, phần còn lại O cho vào túi nilong màu vàng và đi xe máy trên mang phần ma túy còn lại bán cho C1 với giá 300.000 đồng. Cơ quan điều tra đã rà soát tại khu vực bãi tập kết rác A, nhưng không phát hiện và không có thông tin gì về người phụ nữ đã bán ma túy cho O nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Ngô Tuấn A, người chở C1 đi mua ma túy, nhưng Tuấn A không biết Cấp cất giấu ma túy trong người và không biết Cấp mua bán ma túy của O nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với xe máy Honda Click, BKS: 29U1-003.12. Quá trình điều tra, xác định: xe máy đăng ký tên chị Phan Thị Y (Sinh năm: 1988; HKTT: Tổ E, phường M, quận H, Hà Nội). Chị Y mua xe máy vào tháng 4 năm 2011, sau đó do không có nhu cầu sử dụng nên đến tháng 6 năm 2021 chị Y đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết với giá là 7.000.000 đồng kèm theo đăng ký và giấy tờ liên quan đến xe. Quá trình điều tra O khai nhận xe máy trên là của O (O không nhớ mua bao nhiêu tiền và mua ngày tháng năm nào) do đó Cơ quan điều tra đã chuyển xe máy trên cùng vật chứng để xử lý theo pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn C1 và Đoàn Thị Kim O khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Hoàng Văn C1, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng K - C2.
Sung công quỹ nhà nước:
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Sonas A7 lắp 01 sim.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A53 lắp 01 sim.
+ 01 xe máy kiểu dáng Honda Click gắn BKS: 2U1- 003.12; số máy: 0275939, số khung: 821633.
+ Truy thu của bị cáo O 300.000 đồng tiền bán ma túy ngày 24/06/2024.
Hình phạt bổ sung: xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[7] Về án phí: Đối với bị cáo C1 là người dân tộc thiểu số nên miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Kim O phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Hoàng Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kim O 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
2. Áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2024.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Hoàng Văn C1, cán bộ Công an phường M và giám định viên phòng K - C2.
Sung công quỹ nhà nước:
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Sonas A7 lắp 01 sim.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung A53 lắp 01 sim.
+ 01 xe máy kiểu dáng Honda Click gắn BKS: 2U1- 003.12; số máy: 0275939, số khung: 821633.
Các máy đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng tình trạng hoạt động của máy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 48 ngày 12/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
+ Truy thu của bị cáo O 300.000 đồng tiền bán ma túy ngày 24/06/2024.
4. Hình phạt bổ sung: Không.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn án phí cho bị cáo Hoàng Văn C1. Bị cáo Đoàn Thị Kim O phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhân :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
9
10
Bản án số 351/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 351/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thj Kim O phạm tội mua bán trái phép chất ma túy Hoàng Văn C1 phạm tội tàng trữ trái phép chất ma
