Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 351/2025/DSST

Ngày 09/6/2025

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương.
  2. Ông Nguyễn Văn Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 721/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268A/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 291/2025/QĐST-DS ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1978. (có mặt)

Địa chỉ: Số B, đường D, tổ H, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm V, sinh năm: 1948. (có mặt)

Địa chỉ: số A đường C, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Cao Khắc T1, sinh năm: 1974; (có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số B, đường D, tổ H, khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1959; (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: số A đường C, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 2018, Bà nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 380,1 m² địa chỉ ấp X, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh tại thửa đất số 522, tờ bản đồ số 57 của bà Lê Thị S theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp và sử dụng ổn định. Tuy nhiên đến tháng 11/2022, bà phát hiện ông Phạm V có hành vi lấn ranh đất của mình, khi phát hiện bà có trao đổi với ông Phạm V về phần đất bị lấn chiếm và đề nghị ông Phạm V trả lại đúng hiện trạng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Phạm V không đồng ý nên bà đã tiến hành đo đạc lại diện tích đất, kết quả phần đất mà ông Phạm V lấn chiếm của bà là 66,5 m² theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc, bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 02/12/2022. Sau đó, bà có nộp đơn xin hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T và đã được hòa giải vào ngày 02/02/2023 nhưng kết quả hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân xã T đã ban hành Thông báo số 608/TB-UBND ngày 13/4/2023 về kết quả hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất. Nay, Bà yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm V trả lại diện tích đất 66,5 m² thửa đất số 522, tờ bản đồ số 57, tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị tạm tính của phần đất là 100.000.000 đồng.

Những tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đơn khởi kiện, biên bản hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã, đơn yêu cầu xem xét thẩm định, thông báo kết quả hòa giải tranh chấp, hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phạm V trình bày: Đất đã bán mấy chục năm, khi làm đường lấn chỉ hai mét mà giờ nói tôi lấn tới sáu bảy mét tôi không đồng ý.

Những tài liệu, chứng cứ bị đơn cung cấp: không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cao Khắc T1 trình bày:

Ông là chồng của bà Nguyễn Thị T, nguyên đơn. Năm 2018, gia đình ông có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 380,1 m² địa chỉ ấp X, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh tại thửa đất số 522, tờ bản đồ số 57 của bà Lê Thị S theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp và sử dụng ổn định. Tuy nhiên đến tháng 11/2022, ông phát hiện mảnh đất của ông được ông Phạm V làm hàng rào bằng lưới B40 ở ranh ngang cuối đất, do thấy đất có diện tích bị hẹp lại nên ông có xin phép gia đình ông Phạm V là đo lại ranh đất của mình và được ông Phạm V đồng ý. Sau khi tiến hành đo đạc xong thì phát hiện hàng rào ông Phạm Vải R lấn sang phần đất của ông với tổng diện tích là 66,5 m² (chi tiết cụ thể như hồ sơ đã nộp tại Tòa án). Gia đình ông có trao đổi với ông Phạm V về phần đất bị lấn sang và đề nghị ông Phạm V trả lại đúng hiện trạng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Phạm V không đồng ý. Ông Phạm V yêu cầu chính quyền xã vào thực hiện việc đo đạc để xác định lại hiện trạng. Gia đình ông đã làm đơn đề nghị UBND xã T tiến hành đo đạc để xác nhận hiện trạng. Sau khi UBND xã T lập Hội đồng thẩm định và tiến hành đo đạc lại diện tích đất của gia đình ông. Kết quả sau khi đo đạc, thẩm định phần đất mà ông Phạm Vải R sang phần đất của gia đình ông là 66,5 m² (có bản vẽ đo đạc chi tiết kèm theo tại hồ sơ). Sau khi có kết quả đo đạc, thẩm định UBND xã T có thành lập tổ hòa giải và tiến hành hòa giải hai lần nhưng kết quả không thành. UBND xã T đã bàn hành Thông báo số 608/TB-UBND ngày 13/4/2023 về kết quả hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất và hai bên thống nhất chuyển lên Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tiến hành hòa giải không thành do ông Phạm V không chấp nhận vị trí ranh đất theo tọa độ tại giấy chứng nhận là đúng, mà phải theo hiện trạng như ông đã rào hàng rào. Vì vậy ông làm tờ khai này kính trình Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét và phán quyết, quyết định.

Những tài liệu, chứng cứ người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp: Bản tự khai, đơn xin vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Bà T trình bày: Sau khi đo đạc thực tế, phần đất ông Phạm Vải L của tôi có diện tích 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh vẽ ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho tôi là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018; Hiện trạng tên đất là đất trống chỉ có hàng rào trụ sắt, lưới B40 do ông Phạm Vải R tạm. Tôi yêu cầu ông Phạm V trả lại cho tôi hiện trạng đất trống; Về chi phí tố tụng mà tôi đã tạm ứng trong quá trình tố tụng gồm: Tiền bản vẽ, tạm ứng đo đạc, định giá,... tôi tự nguyên chịu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

Về Tố tụng: Tại phiên Tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung yêu cầu của nguyên đơn, nội dung tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm V trả lại cho phía nguyên đơn phần đất giáp ranh mà ông Phạm V đã lấn của nguyên đơn. Đây là tranh chấp về dân sự, quan hệ tranh chấp là tranh chấp về quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà N vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

Trong phần thủ tục khai mạc phiên tòa, bị đơn ông Phạm V yêu cầu thay đổi Thẩm phán chủ tọa phiên tòa với lý do là chủ tọa phiên tòa thiên vị, ép bị đơn, không cho bị đơn trình bày ý kiến.

Sau khi nghị án để hội ý xem xét đề nghị của phía bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của phía bị đơn là không có cơ sở nên không chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu ông Phạm V trả lại cho nguyên đơn phần đất thực tế có diện tích là 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh vẽ ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018; Yêu cầu ông Phạm V trả lại cho bà hiện trạng đất trống.

Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Phần đất đang tranh chấp phía bị đơn cho rằng có nguồn gốc là của bị đơn bán cho người khác, người khác bán lại cho bà T, khi bán thì các bên chỉ thỏa thuận là ngang, dài, không nói gì đến phải trừ lộ giới đường, sau đó thì làm thủ tục tách thửa, ra giấy; Trong khi đường mở rộng chỉ khoảng 02 đến 03 mét sâu vô, mà phía nguyên đơn lại cho rằng ông lấn đất của nguyên đơn đến sáu bảy mét, ông không đồng ý, có sai là do Ủy ban hoặc cơ quan cấp giấy đất sai, chứ ông không có sai. Căn cứ bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng T2 lập ngày 12/3/2025 thì phần đất diện tích là 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018; Phần đất này thực tế ông Phạm V là người đang quản lý, sử dụng; Hiện trạng trên đất có hàng rào, kết cấu: trụ sắt, lưới B40 nằm ở vị trí cuối đất của nguyên đơn, giáp với phần đất của bị đơn; Ngoài ra không còn gì; Bà N là vợ của ông Phạm V do đó bà N cũng là người có quyền và lợi ích liên quan với ông Phạm Vải .

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẻ: Phần đất tranh chấp sau khi đo đạc thực tế có diện tích là diện tích 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh lập ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018.

Hiện trạng trên phần đất tranh chấp có hàng rào, kết cấu: trụ sắt, lưới B40; Ông Phạm V là người xây dựng, vị trí nằm phía sau gần cuối đất của bà Nguyễn Thị T có chiều dài là 12,64 mét, làm trên phần đất của người khác (của bà T), không có sự đồng ý của chủ sở hữu; Bà T không có nhu cầu sử dụng công trình này, bà T yêu cầu ông Phạm V trả lại cho bà hiện trạng là đất trống. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc ông Phạm V hoàn trả lại cho bà T phần đất có diện tích là 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh lập ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018; Trả lại hiện trạng đất trống; Bà T không phải hoàn trả cho ông Phạm V chi phí xây dựng hàng rào trên phần đất đang tranh chấp là phù hợp.

Về chi phí tạm ứng đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp mà phía nguyên đơn đã tạm ứng trong quá trình Tố tụng tại Tòa án. Phía nguyên đơn không có yêu cầu gì, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận.

Quan hệ tranh chấp trong vụ kiện này là tranh chấp về quyền sử dụng đất, là tranh chấp không có giá ngạch. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1, 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều: 163, 164, 174, 175, 176, 185, 189, 190 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 5, 166, 170, 179 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 1, 5 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T.

  1. Buộc ông Phạm V và bà Nguyễn Thị N trả lại cho nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh lập ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018.
  2. Buộc ông Phạm V và bà Nguyễn Thị N tháo dỡ toàn bộ những công trình xây dựng trên phần đất diện tích là 66 m² (khu 2) thuộc thửa 522-1, tờ bản đồ số 57, địa chỉ thửa đất tại xã T, theo bản vẽ hiện trạng vị trí do Công ty TNHH MTV thiết kế, Xây dựng, Đo đạc, Bản đồ Hoàng Thịnh lập ngày 12/3/2025, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS06964, ngày 05/01/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Lê Thị S, cập nhật trang 3 cho bà là Nguyễn Thị T vào ngày 05/6/2018; Trả lại hiện trạng đất trống cho bà Nguyễn Thị T.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm V và Nguyễn Thị N phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0016486 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm V, ông T1, bà N không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (14b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 351/2025/DSST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 351/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger