Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 351/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Toại

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quang Việt

Ông Trần Văn Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trung Tuấn, bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 351/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3757/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn An K; sinh năm: 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: A ấp C, xã H, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn T, mẹ: Đặng Thị L; có vợ và 02 con (lớn nhất sinh năm 2019 và nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày: 25/12/2023; có mặt tại phiên tòa.
  2. Lê Đăng K1; sinh năm: 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 1130/12/7 P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: 428/23/11B ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Lê Quang V, mẹ: Phạm Thị Kim L1; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày: 25/12/2023; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty Cổ phần D; địa chỉ: tầng B, Tòa nhà P, số E Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • - Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm: 1983 hoặc bà Nguyễn Hoàng L2, sinh năm: 1998; cùng địa chỉ: A (tầng C) Cô B, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; ông H1 và bà L2 có mặt tại phiên tòa;
  • (Theo Giấy ủy quyền ngày 19/7/2024 của Công ty Cổ phần D và Giấy ủy quyền ngày 22/4/2024 của Công ty L4).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Minh Quốc B, sinh năm: 1989; nơi cư trú: 44 đường B, KDC B, ấp B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn An K: Ông Nguyễn Minh C - là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Minh C, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: 1 N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn An K là công nhân kho nguyên liệu kiêm tài xế điều khiển xe nâng và Lê Đăng K1 là bảo vệ nhà máy, cùng làm chung tại Nhà máy D1 (thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần D, gọi tắt Công ty M). Vào khoảng tháng 3/2022, K rủ K1 lấy trộm nhớt ở trong kho thành phẩm để bán lấy tiền tiêu xài, số tiền bán được sẽ chia đôi thì K1 đồng ý. K có nhiệm vụ đột nhập vào nhà kho để lấy trộm nhớt, K1 có nhiệm vụ ở chốt bảo vệ cổng Số 1 quan sát các camera giám sát đặt xung quanh khu vực nhà kho để cảnh giới cho K thực hiện.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 11/2022, cả hai đã nhiều lần lấy trộm nhiều bình nhớt các loại, sau đó K đem bán cho anh Trần Minh Quốc B lấy tiền chia nhau tiêu xài. Mỗi lần mua nhớt, ông B sẽ nhờ người thân chuyển khoản thanh toán tiền cho K. Ngoài ra, ông B sử dụng tài khoản mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 và tài khoản ví điện tử ZaloPay liên kết với tài khoản ngân hàng của anh B để chuyển tiền thanh toán tiền mua nhớt vào tài khoản mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N do K đứng tên tài khoản. Sau đó, K sẽ chuyển tiền chia lại cho K1 vào tài khoản mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á do K1 đứng tên.

Khoảng 17 giờ ngày 23/11/2022, Nguyễn An K và Lê Đăng K1 cũng với phương thức, thủ đoạn và hành vi tương tự đã trộm cắp 02 (hai) thùng nhớt loại 300V FACTORY LINE ROAD RACING 10W40 12X1 (loại một thùng 12 bình nhớt) bỏ vào thùng giấy carton đem giấu ở khu vực để các xô nhớt chưa đóng bình rồi quay về tiếp tục làm việc. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, K điều khiển xe nâng chở thùng giấy carton đựng nhớt trộm được ra để ở cổng Số 2. Sau đó, K điều khiển xe mô tô biển số 59Z1-248.54 đến cổng Số 1 lấy 02 thùng nhớt loại 300V FACTORY LINE ROAD RACING 10W40 12X1 do trước đó K mua của chị Nguyễn Thị Bích L3 (là công nhân trong nhà máy) và tiếp tục đi ra cổng Số 2 lấy thùng giấy carton đựng 02 thùng nhớt vừa trộm được, rồi đem bán 04 thùng nhớt (gồm 48 bình nhớt) cho anh Trần Minh Quốc B. Đến tối cùng ngày, anh B chuyển khoản vào tài khoản của K số tiền 13.400.000 đồng. K chuyển khoản chia lại cho K1 số tiền 700.000 đồng, do K nói với K1 là lấy trộm được 02 thùng nước mát bán được số tiền 1.400.000 đồng.

Ngày 24/11/2022, anh Nguyễn Vĩnh T1 là giám sát kho hàng thành phẩm Nhà máy dầu nhớt Vilube-Motul kiểm tra camera lắp bên trong kho thì phát hiện hành vi lấy trộm nhớt của Nguyễn An K và báo sự việc cho anh Nguyễn Hữu H1 là Trưởng bộ phận kho vận của công ty biết. Đến ngày 08/12/2022, anh Nguyễn Hữu H1 đến Công an xã L, huyện N trình báo sự việc, sau đó được chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, ban đầu đại diện Công ty M xác định số lượng sản phẩm bị mất trộm bao gồm: 2028 bình nhớt loại 300V FACTORY LINE ROAD RACING 10W40 12X1; 48 bình nhớt loại 7100 4T 10W50 12X1L VN; 40 bình nhớt loại 3000 PLUS 4T 20W50 20X1L VN; 40 bình nhớt loại SCOOTER POWER LE 4T 5W40 20X0.8L VN; 04 bình nhớt loại H-TECH PRIME 5W40 4X4L VN; 100 bình nhớt loại H-TECH 100 4T 10W40 20X1L; 12 bình nhớt loại H-TECH 100 4T 10W40 12X1L VN; 200 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X0.8L VN; 160 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L VN; 100 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L. Tổng số sản phẩm bị mất trộm trị giá là 562.860.364 đồng. Vụ án được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để thụ lý điều tra.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, đại diện Công ty M trình bày sau khi kiểm tra lại kho hàng và do cung cấp nhầm giá của loại nhớt 300V 10W40 12X1, cũng như không xác định được số lượng bình nhớt bị mất ngày nào, loại nhớt bị mất từng ngày là bao nhiêu, chỉ xác định số lượng bình nhớt bị thất thoát dựa trên kết quả kiểm kê cuối năm 2022 (thời điểm kiểm kê từ ngày 28/12/2022 đến ngày 30/12/2022, theo bảng thống kê hàng thành phẩm thất thoát ngày 09/01/2023) gồm: 1.857 bình nhớt loại 300V FACTORY LINE ROAD RACING 10W40 12X1; 42 bình nhớt loại 7100 4T 10W50 12X1L VN; 10 bình nhớt loại 3000 PLUS 4T 20W50 20X1L VN; 40 bình nhớt loại SCOOTER POWER LE 4T 5W40 20X0.8L VN; 04 bình nhớt loại H-TECH PRIME 5W40 4X4L VN; 81 bình nhớt loại H-TECH 100 4T 10W40 12X1L VN; 200 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X0.8L VN; 160 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L VN; 100 bình nhớt loại 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H yêu cầu Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố định giá trị gồm:

  1. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại 300V FACTORY LINE ROAD RACING 10W40 12X1: Tháng 4/2022 là 228 bình; Tháng 5/2022 là 120 bình; Tháng 6/2022 là 228 bình; Tháng 7/2022 là 228 bình; Tháng 8/2022 là 168 bình; Tháng 9/2022 là 276 bình; Tháng 10/2022 là 240 bình; Tháng 11/2022 là 122 bình;
  2. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại 7100 4T 10W50 12X1L VN: Tháng 11/2022 là 42 bình.
  3. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại 3000 PLUS 4T 20W50 20X1L VN: Tháng 03/2022 là 10 bình.
  4. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại SCOOTER POWER LE 4T 5W40 20X0.8L VN: Tháng 7/2022 là 20 bình.
  5. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại H-TECH PRIME 5W40 4X4L VN: Tháng 7/2022 là 04 bình.
  6. Bình nhớt hiệu Vilube Motul loại H-TECH 100 4T 10W40 12X1L VN: Tháng 6/2022 là 60 bình”.

Kết luận định giá tài sản số 2180/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố kết luận về giá của tài sản: “Căn cứ theo thông tin tài sản nêu trên, thống nhất giá trị tài sản tổng cộng là 204.096.373 đồng; tính tròn là 204.096.000 đồng (hai trăm lẻ bốn triệu, không trăm chín mươi sáu ngàn đồng)”.

Qua xác minh điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn An K và Lê Đăng K1; đến ngày 25/12/2023, bắt được Nguyễn An K và Lê Đăng K1.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn An K khai nhận căn cứ vào danh sách ngày xuất nhớt cho nhân viên nhà máy và ngày anh Trần Minh Quốc B chuyển khoản thanh toán tiền mua nhớt, K xác định các lần bán nhớt cho anh B có loại nhớt 300V 10W40 (12 bình/thùng) do K thu mua lại của một số nhân viên khác mua nhớt trợ giá của nhà máy. Đối với các ngày còn lại, đều là nhớt do Nguyễn An K và Lê Đăng K1 trộm cắp của nhà máy. K xác định đã bán nhớt cho anh B được số tiền 593.360.000 đồng, trong đó 522.986.000 đồng là tiền bán nhớt trộm được, 70.620.000 đồng là tiền bán nhớt thu mua của các nhân viên mua nhớt trợ giá của nhà máy; số tiền 522.986.000 đồng, K chia cho K1 75.260.000 đồng, còn lại K sử dụng sửa chữa nhà và tiêu xài cá nhân. K thừa nhận nói với K1 không đúng về số lượng, loại tài sản và giá bán tài sản trộm cắp được với mục đích để chia tiền cho K1 ít hơn số tiền thực tế bán tài sản trộm được.

Lê Đăng K1 khai nhận, mỗi lần Nguyễn An K trộm được tài sản thì đều nhắn tin qua tin nhắn Zalo cho K1 biết số lượng, loại nhớt đã trộm được và số tiền có được để K và K1 tính tiền chia đều cho nhau. Tổng số tiền mà K đã chia cho K1 là 75.260.000 đồng. Ngày 23/11/2022, K nói với K1 là lấy trộm được hai thùng nước mát (một thùng 12 bình) và bán được số tiền 1.400.000 đồng, K chia cho K1 số tiền 700.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn An K và Lê Đăng K1 đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên, lời khai của Nguyễn An K và Lê Đăng K1 phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 277/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn An K và Lê Đăng K1 tội danh “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu lên các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn An K từ 08 năm đến 09 năm tù, đối với Lê Đăng K1 từ 07 năm đến 08 năm tù. Đồng thời, đề nghị xử lý tài sản, vật chứng thu giữ theo quy định.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn An K trình bày: thống nhất về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố đối với bị cáo. Đồng tình với các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát nêu trong phần luận tội. Đồng thời trình bày thêm, về điều kiện, hoàn cảnh sống và môi trường làm việc của bị cáo; hậu quả vật chất đã được khắc phục toàn bộ, thậm chí hơn cả giá trị tài sản chiếm đoạt bị quy kết. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và bị cáo sớm trở về với gia đình.
  • - Các bị cáo Nguyễn An K, Lê Đăng K1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu; xác định cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan sai và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại - Công ty M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xác nhận sự việc có liên quan xảy ra đúng như cáo trạng đã nêu. Đại diện hợp pháp của bị hại - Công ty M - xác định tổng giá trị thiệt hại là 256.555.296 đồng, nên bị hại đồng ý cho các bị cáo bồi thường số tiền này. Bị cáo Nguyễn An K đã bồi thường toàn bộ thiệt hại số tiền trên, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 11/2022, các bị cáo Nguyễn An K và Lê Đăng K1 đã cùng nhau lén lút, chiếm đoạt nhiều bình nhớt các loại của Nhà máy D1 (thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần D). Trong đó, bị cáo K1 ở chốt bảo vệ cổng Số 1 làm nhiệm vụ cảnh giới, quan sát các camera giám sát đặt xung quanh khu vực nhà kho, để bị cáo K đột nhập vào nhà kho để lấy trộm nhớt. Theo Kết luận định giá tài sản số 2180/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, thì tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 204.096.000 đồng (hai trăm lẻ bốn triệu không trăm chín mươi sáu ngàn đồng).

[3] Quá trình điều tra, giá trị, số lượng tài sản chiếm đoạt mà các bị cáo khai nhận nhiều hơn so với giá trị, số lượng mà cơ quan điều tra làm rõ được. Tuy nhiên, do bị hại cũng không xác định được chính xác số lượng, loại tài sản, thời điểm tài sản bị chiếm đoạt mà chỉ xác định được số lượng tài sản bị thất thoát dựa trên kết quả kiểm kê tài sản cuối năm. Mặt khác, đối với loại nhót 3100 GOLD 4T 10W40 do chưa xác định từng tháng từ tháng 7/2022 đến tháng 10/2022, cả hai bị cáo đã chiếm đoạt là loại nhớt 3100 GOLD 4T 10W40 20X0.8L hay 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L VN hay 3100 GOLD 4T 10W40 20X1L và số lượng cụ thể từng loại là bao nhiêu nên không có căn cứ xác định giá trị thiệt hại. Đồng thời, do người đại diện bị hại xác định đã được bồi thường thiệt hại đầy đủ và không có ý kiến gì khác, nên căn cứ vào giới hạn xét xử, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào số tài sản, cũng như trị giá tài sản mà các cơ quan chức năng xác định được và Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo để xét xử.

[4] Hành vi lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý dầu nhớt của Nhà máy D1 (thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần D), lén lút tiếp cận rồi chiếm đoạt tài sản của Công ty M có tổng giá trị là 204.096.000 đồng, bán lấy tiền chia nhau tiêu xài mà các bị cáo thực hiện, đã đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn An K và Lê Đăng K1 tội danh “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Doanh nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Trong đó, vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Nguyễn An K là nổi trội hơn, nên phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo Lê Đăng K1.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trừ ngày 23/11/2022, thì các bị cáo, bị hại đều không xác định được cụ thể chính xác số tài sản, loại tài sản từng lần chiếm đoạt/bị chiếm đoạt, mà chỉ xác định được tổng giá trị tài sản các tài sản bị chiếm đoạt như nêu trên, nên chưa đủ cơ sở để xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” đối với các bị cáo.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn An K nêu ra là có căn cứ. Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “thành khẩn khai báo”, “ăn năn hối cải”; “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, người đại diện hợp pháp của Công ty M xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Về trách nhiệm dân sự: bị hại - Công ty M đã được bị cáo Nguyễn An K bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền 256.555.296 đồng và không có ý kiến hay yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 điện thoại hiệu OPPO Reno7 5G, màu xanh thu giữ của bị cáo K; 01 điện thoại hiệu Iphone 11, màu xanh thu giữ của bị cáo K1: đây là các phương tiện được các bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi thực hiện hành vi phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias màu nâu, biển số: 59Z1-248.54: chiếc xe này thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn An K, được bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 42.560.000 đồng bị cáo Lê Đăng K1 tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả: do bị cáo K đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và được bị hại xác nhận, nên trả cho bị cáo K số tiền này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Nguyễn An K, Lê Đăng K1;
  2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn An K, Lê Đăng K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

    Xử phạt bị cáo Nguyễn An K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

    Xử phạt bị cáo Lê Đăng K1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

  3. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  4. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

    • - 01 (một) điện thoại hiệu OPPO Reno7 5G, màu xanh, số Imei 1: 8672.2605.7715.271; Imei 2: 8672.2605.7715.263, có gắn thẻ sim Viettel, trên thẻ sim có số 8984.04065.70072.21795.
    • - 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11, màu xanh, số Imei: 3565.7110.1731.701; Imei 2: 3565.7110.1586.642, có gắn thẻ sim Mobifone, trên thẻ sim có số 8401.1705.5092.33250T.
    • - 01 (một) xe hai bánh gắn máy; nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: LUVIAS; dung tích xi lanh: 124; BS: 59Z1-248.54; SK: RLCL1SK10FY033450; SM: 1SK1-033464.
    • (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số: NK2024/441 ngày 17/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

    - Trả lại cho bị cáo Nguyễn An K số tiền 42.560.000 (bốn mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng, theo Giấy nộp tiền ngày 27/12/2023 vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H số 39490905977500000, mở tại Kho bạc Nhà nước Q.

  5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  6. Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

  7. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  8. Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Cục THADS TP.HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Các bị cáo; (2)
  • - Những người tham gia tố tụng; (3)
  • - THAHS TP.HCM; (1)
  • - Phòng PC53 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, hồ sơ. (20) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 351/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 351/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn An Khang, Lê Đăng Khoa phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn An Khang 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. Xử phạt bị cáo Lê Đăng Khoa 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger