Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

----------

Bản án số: 351/2024/HS-ST

Ngày: 11 – 7 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hướng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
  • Bà Đậu Thị Mỹ Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Anh – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 371/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Phan Thanh C (V), sinh năm 1996 tại Đồng Nai

Nơi thường trú: 62B/A2 khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 9/12; Con ông Phan Thanh D và bà Nguyễn Thị B; Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ (giam) ngày 11/4/2024.

Bị hại: Chị Trần Thu T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Số D, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (SĐT: 0395.714.xxx)

(Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phan Thanh C và chị Trần Thu T cùng là bạn học cũ nên C có ý định lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của chị T để bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, khoảng 12 giờ 00 phút ngày 05/4/2024, C liên lạc qua điện thoại và hẹn gặp chị T tại TP .. Cao thuê một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) chạy xe mô tô công nghệ (G) chở từ Bình Dương đi đến khu vực gần nhà chị T. Sau đó, C sử dụng điện thoại gọi cho chị T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vison, biển số 60F3- 109.05 chở theo cháu Hồ Diễm M (Sinh năm 2020, con gái chị T), đón C đến quán nước "M", địa chỉ: Khu phố C, P. B, TP B. Khi đến trước quán "", C nói dối chị T là cần mượn xe để đi rút tiền nên chị T đã giao xe mô tô biển số 60F3- 109.05 cho C đi, còn chị T đưa con gái vào trong quán ngồi uống nước đợi Cao. Sau đó, C điều khiển xe về thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi liên hệ với một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) bán xe mô tô đã chiếm đoạt của chị T, tại quán nước "Passion", địa chỉ: Ô, đường D, khu phố D, phường A, TP ., Bình Dương, với giá 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền này C đã tiêu xài cá nhân hết. Chị T biết Nguyễn Phan Thanh C thuê phòng trọ và sống tại phường A nên đã trình báo Công an phường A, TP ., tỉnh Bình Dương. Công an phường A đã phối hợp với Công an phường B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T1 xử lý theo quy định.

Vật chứng:

  • - 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vison, biển số 60F3- 109.05 là tài sản bị can đã lừa đảo chiếm đoạt của chị T và bán cho đối tượng không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T1 chưa thu hồi được.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số Imei: 352845142360249, C sử dụng để liên lạc và thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị T.
  • - Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: "Xe mô tô biển số 60F3- 109.05 trị giá 21.180.000đ (Hai mươi mốt triệu một trăm tám mươi nghìn đồng)".

Tại bản Cáo trạng số 378/CT-VKSBH ngày 21/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Phan Thanh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo C từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại theo quy định; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 05/4/2024, tại quán nước "M", địa chỉ: Khu phố C, phường B, TP ., tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Nguyễn Phan Thanh C đã có hành vi gian dối chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Vison, biển số 60F3- 109.05 trị giá 21.180.000₫ (Hai mươi mốt triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) là tài sản thuộc sở hữu của chị Trần Thu T. Như vậy, hành vi của bị cáo C đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật. Đồng thời còn nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số Imei: 352845142360249, C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000đ và bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về án phí: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phan Thanh C (V) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phan Thanh C 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.
  3. Về dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 468 và Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Nguyễn Phan Thanh C phải có nghĩa vụ bồi thường cho chị Trần Thu T số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

  4. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm thanh toán khoản tiền nêu trên thì bị cáo còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 352845142360249 (theo Biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1)
  • - VKSND thành phố Biên Hòa (1);
  • - Cơ quan CSĐT công an TP. Biên Hòa (1);
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Hướng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

4

5

6

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 351/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 351/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh Cao phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger