Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 350/2023/HS-ST

Ngày 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Khắc Thái Sơn và ông Lê Đình Hiệp.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường Trường Đại học N, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 342/2023/TLST-HS ngày 08/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2023/QĐXXST-HS ngày 13/11/2023, đối với bị cáo:

Phạm Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/11/1969, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm H (đã chết) và bà Đoàn Thị Đ; có vợ là Ma Thị C1, đã ly hôn, có 01 con. Tiền sự: không.

Tiền án: 03

  • + Tại Bản án số 267/HSST ngày 22/10/1994 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”, bồi thường 10.000 đồng, án phí 50.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/1995, chưa thi hành xong phần án phí.
  • + Tại Bản án số 188/HSST ngày 19/12/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc chấp hành chung cho cả hai tội là 12 năm tù, phạt bổ sung 40 triệu đồng, án phí 50.000 đồng. bản án số 687/HSPT ngày 25/4/1998 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/3/2008. Bị cáo chưa thi hành án phí và tiền phạt bổ sung.
  • + Tại bản án số 76/HSST ngày 29/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, phạt bổ sung 05 triệu đồng, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/6/2021. Chưa thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2023 đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Thế A, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xử vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 40 phút ngày 07/9/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thành phố T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại trục đường D hướng đi trung tâm thành phố T có 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô Honda Blade màu sơn trắng, BKS 20B2 – 142.85 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra xác minh theo nguồn tin tại khu vực bãi tang trúc đường D thuộc tổ H, phường Q. T 01 người đàn ông có đặc điểm giống như tin báo của quần chúng. Tổ công tác yêu cầu người đàn ông dừng xe để kiểm tra và mời người chứng kiến, người đàn ông khai tên là Phạm Văn C và khai đang cất giấu ma túy trên người rồi tự giác lấy từ túi quần trước bên phải đang mặc 01 gói giấy màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Tiến hành mở gói giấy màu trắng phát hiện bên trong có 01 gói nilon màu hồng chứa các cục chất bột màu trắng. C khai các cục chất bột màu trắng là ma túy Heroine mang theo để bán kiếm lời. Tổ công tác còn tạm giữ của C 01 điện thoại di động Iphone màu bạc và 01 xe mô tô BKS 20B2 – 142.85. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn C tại tổ A, phường T, thành phố T không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số cục chất bột màu trắng thu giữ của C có khối lượng 7,489 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1116/KL-KHTS ngày 16/9/2023 của Phòng Kỹ Công an tỉnh T kết luận: màu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 7,489 gam.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn C khai nhận: khoảng 20 giờ ngày 05/9/2023, C đi ra ngõ C đường D thuộc phường T, thành phố T mục đích để mua ma túy. Khi đến nơi, C gặp và mua của một người đàn ông tên T1 không rõ lai lịch địa chỉ 01 gói ma túy Heroine với giá 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cầm gói ma túy về và cất giấu khi nào có khách hỏi sẽ mang đi bán. Đến khoảng 18 giờ 40 phút ngày 07/9/2023 C cầm theo gói ma túy, điều khiển xe mô tô BKS 20B2 - 142.85 đi từ nhà đến khu vực phường Q, thành phố T để bán cho người có nhu cầu mua, chưa kịp bán thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong kí hiệu C1, C2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc được chứa trong bì niêm phong ký hiệu H1 Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

01 xe mô tô nhãn hiệu Blade, màu trắng đen, BKS 20B2 - 142.85, đã qua sử dụng, đăng ký xe mang tên Phạm Thế A, sinh năm 1993, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Thế A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe trên cho anh Thế A quản lý, sử dụng.

Bản cáo trạng số 348/CT-VKSTPTN ngày 07/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

  • Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

  • Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2; Tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

  • Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

    Hồi 18 giờ 40 phút ngày 07/9/2023, tại khu vực tổ H, phường Q, thành phố T, Phạm Văn C có hành vi tàng trữ 7,489 gam ma túy loại Heroine, mục đích để bán kiếm lời, chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

  3. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
    • Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
    • Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
      • i) Heroine, ...có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
      • q) Tái phạm nguy hiểm.
  4. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
  5. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân rất xấu, có 03 tiền án chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

    Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  6. Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo đã lớn tuổi, thật sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để động viên bị cáo yên tâm cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
  7. Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo tàng trữ ma tuý nhằm mục đích để bán kiếm lời, tuy nhiên bị cáo chưa bán được, bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  8. Về vật chứng của vụ án: đối với số ma tuý còn lại sau giám định được niêm phong trong bì ký hiệu C1, C2 là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu bạc thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

    Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Blade, màu trắng đen, BKS 20B2 - 142.85, đã qua sử dụng. Xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của anh Phạm Thế A, anh Thế A cho bị cáo mượn xe để đi và không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi bán ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chiếc xe trên cho anh Thế A quản lý, sử dụng, và không xem xét xử lý hành vi của anh Thế A là phù hợp quy định pháp luật.

  9. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông tên T1 không rõ tên tuổi, địa chỉ, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
  10. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: căn cứ điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2023.
  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong ký hiệu C1, C2.

    Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu bạc, đã qua sử dụng, IMEI: 35205207559487 được chứa trong bì niêm phong ký hiệu H.

    Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 24 ngày 14/11/2023 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp vào ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 350/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 350/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger