|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 350/2024/DS-PT Ngày: 24/4/2024 V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Anh Minh
Các Thẩm phán:
- Bà Trần Thị Thủy
- Bà Lê Thị Mỹ Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Cao Hoàng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 17/4/2024 và 24/4/2024, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2024/TLPT-DS ngày 02/02/2024, về việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 859/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1275/2024/QĐ-PT ngày 12/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 3955/2024/QĐ-PT ngày 29/3/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 4977/2024/QĐPT-DS ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1954; Địa chỉ: 1 Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T1 - Luật sư Chi nhánh Công ty L tại tỉnh Tiền Giang, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1951; Địa chỉ: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Chết 08/2022).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh K:
- Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1957 (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1976 (Có mặt);
- Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
Cùng cư trú: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh T3 là bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: 2 Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 22/4/2024, bà Đ có mặt tại phiên tòa ngày 24/4/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952; Thường trú: A, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 29/7 Tổ E, Khu phố F, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1955; Địa chỉ: 7 H, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; Địa chỉ: 1, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Bình V1, sinh năm 1972; Địa chỉ: 1, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1954; Địa chỉ: 1 Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
- Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1958; Địa chỉ: 1, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1957 (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1976 (Có mặt).
- Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
- Cháu Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 01/01/2009 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: A Tổ G Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh T3 là bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: 2 Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 22/4/2024, bà Đ có mặt tại phiên tòa ngày 24/4/2024).
Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Mạnh D: Bà Nguyễn Thị Minh T2 (Là mẹ của cháu D có mặt).
4. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Nguyễn Minh T3 kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T trình bày:
Cha mẹ chúng tôi là ông Nguyễn Văn C (chết năm 2004 theo giấy chứng tử số 40/KT, Quyển số: I/2004 do Ủy ban nhân dân thị trấn H cấp ngày 26/5/2004) và bà Lê Thị T4 (chết năm 2020 theo Trích lục khai tử số 43/TLKT do Ủy ban nhân dân thị trấn H cấp ngày 29/4/2020), không có lập di chúc.
Trong quá trình chung sống ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 có tạo lập khối tài sản là nhà đất tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H. Theo bản vẽ nhà ở, đất ở số hợp đồng 107837/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 26/11/2021 thể hiện diện tích 1.682,5 m², tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H. Nguồn gốc nhà đất: Do ông Nguyễn Văn C sử dụng từ năm 1962 theo Tờ Đoạn Mãi do phòng Chưởng kế SAIGON lập ngày 17/01/1962 và tờ đăng ký nhà đất do Ủy ban nhân dân thị trấn H lập ngày 18/11/1999.
Cha và mẹ chúng tôi có 07 người con gồm: ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952; ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1955; ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1958; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Bình V1, sinh năm 1972.
Hiện tại ông Nguyễn Minh K đã chết, vợ và các con của ông Nguyễn Minh K là người quản lý và sử dụng toàn bộ nhà và đất tại địa chỉ: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H và không đồng ý phân chia di sản của Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4, từ đó phát sinh tranh chấp.
Từ nội dung trên, ông Nguyễn Minh T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn giải quyết: Phân chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4, bao gồm đất tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, diện tích 1.707,8m² theo Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 29/6/2023. Cụ thể như sau: phân chia cho bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 khu (1) diện tích 500 m²; phân chia cho những người thừa kế của ông Nguyễn Minh K khu (2) diện tích 500 m²; phân chia cho ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị Mỹ k (3) diện tích 707,8 m²; Đối với tài sản gắn liền với đất (căn nhà ngang 04m x dài 06m) đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên ông Nguyễn Minh T không yêu cầu phân chia.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Minh K có bà Nguyễn Thị Minh T2 trình bày:
Ông Nguyễn Văn C (chết năm 2004 theo giấy chứng tử số 40/KT, Quyển số: I/2004 do Ủy ban nhân dân thị trấn H cấp ngày 26/5/2004) và bà Lê Thị T4 (chết năm 2020 theo Trích lục khai tử số 43/TLKT do Ủy ban nhân dân thị trấn H cấp ngày 29/4/2020) có 07 người con gồm: ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952; ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1955; ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 1958; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Bình V1, sinh năm 1972.
Trong quá trình chung sống ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 có tạo lập khối tài sản là nhà đất tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H từ trước năm 1975. Theo bản vẽ nhà ở, đất ở số hợp đồng 107837/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 26/11/2021 thể hiện diện tích 1.682,5 m², tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H. Đến năm 1975, ông Nguyễn Minh K (là cha của bà Nguyễn Thị Minh T2) về sinh sống tại phần đất đang tranh chấp; Và sau đó ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 đã cho ông Nguyễn Minh K toàn bộ thửa đất diện tích 1.682,5 m² theo đo đạc thực tế, việc tặng cho chỉ nói miệng không có giấy tờ gì.
Như vậy, phần đất đang tranh chấp nói trên ông Nguyễn Minh K đã được tặng cho và trực tiếp quản lý từ năm 1975 đến nay. Trong quá trình quản lý ông Nguyễn Minh K có kê khai được thể hiện tại Tờ đăng ký nhà - đất đối với nhà, đất số A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (diện tích 70 m²) do ông Nguyễn Minh K đứng tên kê khai ngày 18/11/1999. Do đó, bà Nguyễn Thị Minh T2 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Minh T về việc xác định diện tích 1.682,5 m², tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H là di sản của của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4; không chấp nhận phân chia thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H theo qui định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M trình bày:
Ông Nguyễn Văn M thống nhất với nội dung về nguồn gốc, diện tích đất tranh chấp và những người thừa kế như lời ông Nguyễn Minh T trình bày. Các con của ông Nguyễn Minh K cho rằng phần đất tranh chấp ông Nguyễn Minh K đã được ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 tặng cho từ năm 1975 thì đề nghị cung cấp chứng cứ. Tài liệu ông Nguyễn Minh K đã kê khai năm 1999 không phải là chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Minh K đã được tặng cho hay là quyền sử dụng đất hợp pháp đối với toàn bộ đất tranh chấp.
Hiện tại ông Nguyễn Minh K đã chết, vợ và các con của ông Nguyễn Minh K là người quản lý và sử dụng toàn bộ nhà và đất tại địa chỉ: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H và không đồng ý phân chia di sản của Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4, từ đó phát sinh tranh chấp.
Từ nội dung trên, ông Nguyễn Văn M yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn giải quyết: Phân chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 là thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, diện tích 1.707.8 m² theo bản vẽ theo hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 17/02/2023. Cụ thể phân chia cho bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 khu (1) diện tích 450,3 m²; phân chia cho những người thừa kế của ông Nguyễn Minh K khu (2) diện tích 427 m²; ông Nguyễn Văn M đồng ý nhận khu (3) diện tích 275 m²; phân chia cho ông Nguyễn Minh Trung k1 (4) có thổ mộ, diện tích 355,3 m² và phân chia cho bà Nguyễn Thị Mỹ k (5) diện tích 200,2 m². Đối với tài sản gắn liền với đất (căn nhà ngang 04m x dài 06m) đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên ông Nguyễn Văn M không yêu cầu phân chia. Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 29/6/2023 do ông Nguyễn Minh T yêu cầu, ông Nguyễn Văn M không đồng ý do anh em đã bất đồng nên không thể đứng tên chung 01 lô đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Q trình bày:
Cha và mẹ chúng tôi là ông Nguyễn Văn C (chết năm 2004) và mẹ Lê Thị T4 (chết năm 2020) có 07 người con gồm: ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1951; ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1952; ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1954; bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1955; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; bà Nguyễn Thị Bình V1, sinh năm 1972 và tôi là Nguyễn Minh Q, sinh năm 1958. Do từ nhỏ cha mẹ đã cho tôi làm con nuôi của người cô tên Nguyễn Thị M2, nên tôi có khai sinh là con của bà Nguyễn Thị M2. Tuy nhiên, khai sinh do chế độ cũ cấp ông Nguyễn Minh Q là con của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4.
Trước khi chết ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 không lập di chúc và để lại khối di sản là nhà đất tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H. Theo bản vẽ nhà ở, đất ở số hợp đồng 107837/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 26/11/2021 thể hiện diện tích 1.682,5 m², tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H.
Hiện tại ông Nguyễn Minh K là người quản lý và sử dụng toàn bộ nhà và đất tại địa chỉ: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H và không đồng ý phân chia di sản của Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4, từ đó phát sinh tranh chấp. Nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn giải quyết: Tôi đã nhận di sản của bà Nguyễn Thị M2, nên từ chối không nhận di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4. Ngoài ra, tôi yêu cầu xin vắng mặt không tham gia các phiên hòa giải và xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có). Mọi phán quyết của quý tòa, tôi không có ý kiến.
Ông Hồ Sỹ P - đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Minh T3 và bà Nguyễn Thị Thu V trình bày: Ông Hồ Sỹ P thống nhất với ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị Minh T2 và không có ý kiến khác.
Ông Nguyễn Minh Trung đại d theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 trình bày:
Bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn giải quyết: Phân chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4, bao gồm đất tại thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, diện tích 1.707,8 m² theo Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 29/6/2023. Cụ thể như sau: phân chia cho bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 khu (1) diện tích 500 m²; phân chia cho những người thừa kế của ông Nguyễn Minh K khu (2) diện tích 500m²; phân chia cho ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Minh T và bà Nguyễn Thị Mỹ k (3) diện tích 707,8 m²; Đối với tài sản gắn liền với đất đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên ông Nguyễn Minh T không yêu cầu phân chia.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 859/2023/DS-ST ngày 28/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật của ông Nguyễn Minh T đối với ông Nguyễn Minh K.
- Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 17/02/2023, diện tích thực tế 1.707,8 m² là di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4.
- Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 được chia khu (1) diện tích 450,3 m² (bốn trăm năm mươi phẩy ba); những người thừa kế của ông Nguyễn Minh K bao gồm: bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2 và ông Nguyễn Minh T3 được chia khu (2) diện tích 427 m² (bốn trăm hai mươi bảy); ông Nguyễn Văn M được chia khu (3) diện tích 275 m² (hai trăm bảy mươi lăm); ông Nguyễn Minh T được chia khu khu (4) (5), diện tích 555,5 m² (năm trăm năm mươi lăm phẩy năm), trong đó có thổ mộ diện tích 25,3 m² (hai mươi lăm phẩy ba), theo Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 17/02/2023.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2 và ông Nguyễn Minh T3 có nghĩa vụ giao diện tích đất được chia cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Bình V1, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Minh T và tháo dỡ mái che và các công trình có liên quan tại các vị trí (8) và (13) của Bản đồ hiện trạng vị trí theo hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 17/02/2023, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất được phân chia.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của đương sự và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
- Ngày 03/10/2023, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Minh K là bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Nguyễn Minh T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo bà Nguyễn Thị Minh t trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Tòa án xem xét xác minh làm rõ Tờ đăng ký nhà đất đối với nhà đất số A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1928 đứng tên kê khai ngày 18/11/1999 là giả, không phải do ông Nguyễn Văn C làm. Bà T2 cho rằng tại đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện nhà đất địa chỉ 1 Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải nhà đất tại địa chỉ A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do đó cấp sơ thẩm xét xử không đúng nhà đất tranh chấp. Bà T2 đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T, đồng thời ông T là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Bình V1 trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, ông xác định từ khi đơn khởi kiện cho đến nay ông chỉ khởi kiện yêu cầu chia di sản là nhà đất tại địa chỉ A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Nguyễn Đăng T1 trình bày: Căn cứ các tài liệu nguyên đơn đã nộp thể hiện nhà đất địa chỉ A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4. Phía bị đơn cho rằng nhà đất này đã tặng cho ông Nguyễn Minh K nhưng không có chứng cứ chứng minh. Do đó đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia di sản của nguyên đơn theo quy định pháp luật.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm như sau: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Minh T3 và bà Nguyễn Thị Thu V do triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh T2, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 859/2023/DSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Về thời hạn kháng cáo.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Minh K là bà Nguyễn Thị Minh T2, bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Minh T3 nộp đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
Người kháng cáo là bà Nguyễn Thị Thu V, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà V và xét xử vắng mặt bà V.
Người kháng cáo là ông Nguyễn Minh T3 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai ngày 17/4/2024 không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm tiếp tục ngày 24/4/2024 ông Nguyễn Minh T3 có ủy quyền cho bà Trần Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: 2 Ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy ủy quyền ngày 22/4/2024 và bà Trần Thị Đ có mặt, tuy nhiên do ông T3 vắng mặt tại phiên tòa ngày 17/4/2024 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông T3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh Q có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Q.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh T2 (là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn và bà T2 đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), về việc đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Tờ Đoạn Mãi do phòng Chưởng kế SAIGON lập ngày 17/01/1962; Biên bản cắm ranh thửa đất số 372, 373 Tờ thứ 2 làng T, tỉnh Gia Định, theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M2, do Phòng Văn Trắc Địa S Giám Định lập ngày 25 tháng giêng năm 1963 có đủ cơ sở xác định diện tích đất 1.682,5 m², thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H theo bản vẽ nhà ở, đất ở số Hợp đồng 107837/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 26/11/2021, tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị M2 sử dụng từ năm 1962, tổng diện tích 3.360 m²; theo thỏa thuận anh em mỗi người chia một nửa, theo bộ Đ1 lập năm 1982-1983 bà Nguyễn Thị M2 đăng ký sử dụng 1.328 m², đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất này không có tranh chấp. Quá trình quản lý sử dụng đất phần còn lại, ông Nguyễn Văn C kê khai đăng ký qua các thời kỳ được thể hiện tại tờ đăng ký nhà đất do Ủy ban nhân dân thị trấn H lập ngày 18/11/1999. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn C có nộp thuế đất nông nghiệp vào các năm 1984, 1985 đối với thửa đất tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H được thể hiện tại các biên lai nộp thuế, thông báo nộp thuế do nguyên đơn nộp cho Tòa án.
Như vậy, có đủ cơ sơ xác định diện tích đất 1.682,5 m², thửa số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H theo bản vẽ nhà ở, đất ở số hợp đồng 107837/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 26/11/2021, tại địa chỉ số: A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H là di sản của ông Nguyễn Văn C (Chết 2004) và bà Lê Thị T4 (Chết 2020).
Phía bị đơn cho rằng ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 đã tặng cho cho ông Nguyễn Minh K toàn bộ thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H, diện tích 1.682,5 m². Tuy nhiên, phía bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã được tặng cho. Tại Tờ đăng ký nhà đất được Ủy ban Nhân dân thị trấn H xác nhận ngày 18/11/1999 do bị đơn cung cấp nội dung thể hiện: Ông Nguyễn Minh K chỉ kê khai căn nhà trệt tại địa chỉ A tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, có diện tích 70m². Nguồn gốc nhà: nhà tự cất, của cha mẹ. Đất của cha mẹ, chủ đất là Nguyễn Văn C, nhà xây dựng năm 1976. Như vậy không có cơ sở xác định thửa đất tranh chấp ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 đã tặng cho ông Nguyễn Minh K.
[2.2] Về giá trị di sản tranh chấp: Cấp sơ thẩm đã tiến hành định giá giá trị đất tranh chấp theo Biên bản định giá ngày 20/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản do Tòa án thành lập đối với thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là: 17.000.000 đồng x 1.682,5 m² (1.707,8 m² - 25,3 m² phần mộ) = 28.602.500.000 đồng (hai mươi tám tỷ, sáu trăm lẻ hai triệu, năm trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử căn cứ vào giá đã định làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2.3] Xét hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 có 07 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Ông Nguyễn Minh K, ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị M1, ông Nguyễn Minh Q, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1. Do ông Nguyễn Minh K chết năm 2022, nên hàng thừa kế thứ nhất của ông K là bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1957 (vợ) và 02 con là bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1976, ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1978 được hưởng phần di sản mà lẽ ra nếu còn sống ông Nguyễn Minh K được hưởng. Do ông Nguyễn Minh Q có yêu cầu khước từ không nhận di sản nên di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 sẽ được chia thành 06 suất thừa kế. Xét thấy hầu hết những người thừa kế là ông T, ông M, bà H, bà V1 đều có yêu cầu chia hiện vật là quyền sử dụng đất theo diện tích được phân tại Bản đồ hiện trạng vị trí theo hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 17/02/2023, khi bản án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể mỗi suất thừa kế tương đương 280,4 m² đất. Riêng ông Nguyễn Minh K là người quản lý và có công gìn giữ di sản nên ưu tiên được chia 01 suất thừa kế và 01 phần diện tích đất hợp lý; Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 đồng ý nhận diện tích tương đương 450 m² khu (1) diện tích 450,3 m²; Bà Nguyễn Thị M1 có yêu cầu tặng cho suất thừa kế được hưởng cho ông Nguyễn Minh T do đó ông Nguyễn Minh T được chia 02 suất thừa kế tại khu (4) (5), diện tích 555,5 m² (có thổ mộ diện tích 25,3 m²); ông Nguyễn Văn M đồng ý nhận khu (3) diện tích 275 m². Nên cấp sơ thẩm phân chia hiện vật là quyền sử dụng đất cho các thừa kế theo diện tích như trên là phù hợp với nhu cầu sử dụng thực tế của các đương sự và phù hợp quy định của pháp luật.
Do bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Nguyễn Minh T3 đang quản lý đất tranh chấp, nên cần buộc bà V, bà T2, ông T3 có nghĩa vụ giao diện tích đất được chia cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Bình V1, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Minh T và tháo dỡ mái che và các công trình có liên quan tại các vị trí (8) và (13) của Bản đồ hiện trạng vị trí theo hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 17/02/2023, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về ý kiến của bà T2 cho rằng Tờ đăng ký nhà - đất đối với nhà, đất số A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1928 đứng tên kê khai ngày 18/11/1999 là giả, không phải do ông Nguyễn Văn C làm và tại đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện nhà đất địa chỉ 1 Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải nhà đất tại địa chỉ A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy căn cứ vào tài liệu do nguyên đơn cung cấp là Tờ đăng ký nhà - đất ngày 18/11/1999 và Công văn trả lời số 1911/UBND ngày 20/12/2022, Công văn số 898/UBND ngày 05/6/2023 của Ủy ban nhân dân thị trấn H và Công văn số 4734/VPĐK-LK ngày 05/6/2023 của Văn phòng Đăng ký Đất đai Thành phố H đều có nội dung xác nhận Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, địa chỉ tại A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1928 đứng tên kê khai đăng ký ngày 18/11/1999. Và tại đơn khởi kiện hay suốt quá trình tố tụng nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4 là thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, địa chỉ A Tổ G, Khu phố H, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó ý kiến này của bà T2 là không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét, thu thập, đánh giá đúng, đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh T2 không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu V được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Nguyễn Minh T3 mỗi người chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 611, 613, 623, 645, 649, 650, 651 và 660 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Minh T3.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh T2.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 859/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện phân chia thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật của ông Nguyễn Minh T đối với ông Nguyễn Minh K.
- Thửa đất số 02, tờ bản đồ số 12, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản vẽ hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 17/02/2023, diện tích thực tế 1.707,8 m² là di sản của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị T4.
- Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Bình V1 được chia khu (1) diện tích 450,3 m² (bốn trăm năm mươi phẩy ba mét vuông); những người thừa kế của ông Nguyễn Minh K bao gồm: bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2 và ông Nguyễn Minh T3 được chia khu (2) diện tích 427 m² (bốn trăm hai mươi bảy mét vuông); ông Nguyễn Văn M được chia khu (3) diện tích 275 m² (hai trăm bảy mươi lăm mét vuông); ông Nguyễn Minh T được chia khu khu (4) (5), diện tích 555,5 m² (năm trăm năm mươi lăm phẩy năm mét vuông), trong đó có thổ mộ diện tích 25,3 m² (hai mươi lăm phẩy ba mét vuông), theo Bản vẽ Hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở T lập ngày 17/02/2023.
- Buộc bà Nguyễn Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Minh T2 và ông Nguyễn Minh T3 có nghĩa vụ giao diện tích đất được chia cho bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị Bình V1, ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Minh T và tháo dỡ mái che và các công trình có liên quan tại các vị trí (8) và (13) của Bản đồ hiện trạng vị trí theo hợp đồng số 108782/TTĐĐBĐ-CNHM do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 17/02/2023, khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được quyền yêu cầu Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất được phân chia.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản ông Nguyễn Minh T tự nguyện chịu, đã nộp xong.
- Về án phí:
- 7.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Minh T, bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị Thu V được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; Bà Nguyễn Thị Minh T2 và ông Nguyễn Minh T3 mỗi người phải chịu 38.419.600 (Ba mươi tám triệu, bốn trăm mười chín nghìn, sáu trăm) đồng; bà Nguyễn Thị Bình V1 phải chịu 57.825.550 (Năm mươi bảy triệu, tám trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi) đồng.
- 7.2. Án phí dân sự phúc thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Thu V được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Minh T2, ông Nguyễn Minh T3 mỗi người chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0017165 ngày 10/10/2023 và AA/2022/0017166 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân huyện Hóc Môn. Bà T2, ông T3 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Anh Minh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM |
|
|
CÁC THẨM PHÁN Trần Thị Thủy Lê Thị Mỹ N |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Anh M3 |
Bản án số 350/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 350/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất.
