Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 350/2025/HS-ST

Ngày: 29/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đoàn Thị Kim Ngoan

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh L - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tiếp đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 266/2025/HSST ngày 23 tháng 04 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Nguyên H, sinh năm 1987 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nơi ở hiện tại: không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Kiến trúc sư; Cha: Lê Thanh T, sinh năm 1960; Mẹ: Đoàn Thị Mỹ V, sinh năm: 1962; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Con: Có 3 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2017; Anh chị em: Gia đình có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 25/4/2017, bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 126/QĐ – XPHC, đã đóng phạt ngày 30/01/2018.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/01/2025, bị cáo có mặt

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 2001;

Nơi ở hiện tại: Số G, N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Bà Đặng Thị M, sinh năm 1968;

Nơi ở hiện tại: 2 T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan: Bà Đặng Thị Kim D, sinh năm 1976;

Địa chỉ: B Đường E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, H điều khiển xe mô tô hiệu SUZUKI, biển số 51R-0187 đi từ nhà trọ tại địa chỉ: Số A Đường A, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đến Bệnh viện L1, địa chỉ: Số A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm tài sản sơ hở lấy trộm. Khi đến bệnh viện, H gửi xe tại bãi xe và đi bộ vào trong bệnh viện. H đi dọc hành lang quan sát các phòng, khi đi vòng đến Phòng 316, Lầu C, khoa Ngoại Tổng hợp thấy cửa phòng khép hờ, H nhìn qua cửa phòng thì phát hiện trong phòng có 03 giường: Giường 1 (sát bên cửa chính của phòng) không có người, Giường 2 (ở giữa) có anh Nguyễn Thanh T2 đang ngủ, phía bên phải đầu T2 có điện thoại hiệu Iphone 14 Promax 128GB màu tím đang sạc pin và Giường 3 có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đang ngủ. H quan sát một lúc rồi bước vào phòng đi giữa G và Giường 2, tiến lại sát người anh T2, H dùng tay phải vòng qua phía đầu T2 cầm điện thoại, lấy ngón tay cái đẩy dây sạc pin ra và cầm điện thoại bỏ vào túi quần trước bên phải rồi đi ra ngoài Phòng 316. H tiếp tục đi các phòng khác để tìm kiếm tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đến trước Phòng 320, Lầu C, khoa Ngoại Tổng thấy cửa phòng khép hờ, H đứng ngoài quan sát phát hiện phòng có 03 giường đều có người đang ngủ, Giường 1 (sát bên cửa chính của phòng) có chị Đặng Thị M đang ngủ, phía bên phải đầu của chị M có để một điện thoại Xiaomi POCO X3 NFC 128GB màu xanh đen, dưới đất có trải chiếu nhưng không có người. Thấy vậy, H bỏ dép ở ngoài cửa phòng đi chân không vào phòng, tiến lại sát người chị M, H dùng tay trái lấy điện thoại bỏ vào túi quần trước bên trái rồi đi ra ngoài phòng. Sau đó, H đi ra ngoài bãi xe của Bệnh viện lấy xe mô tô biển số 51R-0187 quay về nhà trọ. Về đến nhà trọ, H kiểm tra lại phát hiện điện thoại hiệu Iphone 14 Promax 128GB có cài đặt mật khẩu, còn điện thoại hiệu Xiaomi POCO X3 NFC màu xanh đen, không có ốp lưng, không có mật khẩu nên đã khôi phục lại cài đặt gốc. Trong quá trình kiểm tra điện thoại, cả hai điện thoại đều có người gọi đến nên H tháo sim điện thoại ra để kế bên, trên giường. Hai điện thoại trên H chưa bán cho ai.

Khi phát hiện mất điện thoại, anh Nguyễn Thanh T2 và chị Đặng Thị M có báo cho bảo vệ của Bệnh viện L1 là anh Nguyễn Văn P. Đến ngày 24/12/2024, anh P đến Công an phường B, thành phố T trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Nguyên H khai nhận toàn bộ hành vi như trên.

Kết luận định giá tài sản số 269-KV1/KLÐG-HĐĐGTS ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 128GB, màu tím trị giá: 18.126.000 đồng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO X3 NFC 128GB, màu xanh đen, trị giá: 3.796.000 đồng.

Tổng giá trị các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 21.922.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám có dòng chữ GOATHEAD in trước ngực áo (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) quần jean lửng màu xanh (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) đôi dép bằng cao su màu đen, đế dép bên trong màu trắng (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) nón bảo hiểm màu đen (đã qua sử dụng);
  • 01 (một) USB chứa đoạn camera ghi lại sự việc.
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax, 128GB, màu tím, số IMEI: 356266767797894, có gắn 01 (một) thẻ sim mạng Vinaphone số [...] và 10836859678 (đã qua sử dụng). Ngày 24/02/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Iphone 14 Promax, 128GB, màu tím cho anh Nguyễn Thanh T2.
  • 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Xiaomi POCO X3 NFC 128GB, màu xanh đen, số IMEI 1: 867549050116229, số IMEI 2: 867549050162237, có gắn 01 (một) thẻ sim mạng Mobiphone số: 8401240850177289 WD (đã qua sử dụng). Ngày 24/02/2025, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại hiệu Xiaomi POCO X3 NFC 128GB, màu xanh đen cho chị Đặng Thị M.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu SUZUKI, biển số 51R-0187, số khung: RLSBE4DJ060100102, số máy: E455100102. Qua xác minh, xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI biển số 51R-0187 do chị Đặng Thị Kim D (HKTT: 60/25 Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Chị D cho chị Nguyễn Thị T1 mượn xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại vào khoảng tháng 6/2024. Bị can Lê Nguyên H khai nhận hỏi mượn vợ là chị T1 xe mô tô trên để đi công việc vào ngày 22/12/2024. Chị Đặng Thị Kim D và chị Nguyễn Thị T1 không biết việc anh H trộm cắp tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh T2 và chị Đặng Thị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 271/CT-VKSTPTĐ ngày 22/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Lê Nguyên H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Nguyên H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thừa nhận việc bị truy tố, không kêu oan và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Nguyên H về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017để xử phạt bị cáo Lê Nguyên H từ 01 (một) năm 6 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo Lê Nguyên H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét việc bị hại và và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Nguyên H phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định:

Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, tại Phòng 316 và Phòng 320 Lầu 3 Bệnh viện L1, số A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Nguyên H đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại hiệu Iphone 14 Promax, 128GB, màu tím của anh Nguyễn Thanh T2 trị giá 18.126.000 (mười tám triệu một trăm hai mươi sáu nghìn) đồng và 01 điện thoại hiệu Xiaomi POCO X3 NFC 128GB, màu xanh đen của chị Đặng Thị M trị giá 3.796.000 (ba triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn) đồng. Tổng giá trị các tài sản mà bị cáo H chiếm đoạt là 21.922.000 đồng.

Hành vi của Lê Nguyên H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Nguyên H về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 21.922.000 (hai mươi mốt triệu chín trăm hai mươi hai nghìn) đồng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Nguyên H 02 (hai) lần thực hiện hành vi phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Thanh T2 và bà Đặng Thị M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về vật chứng vụ án:

  • 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám có dòng chữ GOATHEAD in trước ngực áo 01 (một) quần jean lửng màu xanh; 01 (một) đôi dép bằng cao su màu đen, đế dép bên trong màu trắng; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen thu giữ của bị cáo H. Xét thấy không còn giá trị sử dụng cần phải tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 (một) xe mô tô hiệu SUZUKI, biển số 51R-0187, số khung: RLSBE4DJ060100102, số máy: E455100102 được xác định do bà Đặng Thị Kim D là chủ sở hữu. Xét thấy, bà Đặng Thị Kim D và bà Nguyễn Thị T1 không biết việc bị cáo H dùng vào việc phạm tội. Do đó, trả lại xe mô tô hiệu SUZUKI cho bà Đặng Thị Kim D.
  • 01 (một) USB bên trong có chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh Lê Nguyên H thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy, đây là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Nguyên H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”,
  • + Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Lê Nguyên H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2025.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám có dòng chữ GOATHEAD in trước ngực áo 01 (một) quần jean lửng màu xanh; 01 (một) đôi dép bằng cao su màu đen, đế dép bên trong màu trắng ; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen.
  • + Trả lại 01 (một) xe mô tô hiệu SUZUKI, biển số 51R-0187, số khung: RLSBE4DJ060100102, số máy: E455100102 cho bà Đặng Thị Kim D.
  • + Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB bên trong có chứa đoạn camera ghi lại hình ảnh Lê Nguyên H thực hiện hành vi phạm tội.
  • (Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 306C ngày 23/4/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc bị cáo Lê Nguyên H nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
  • Bị cáo Lê Nguyên H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 350/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 350/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Nguyên H - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger