Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 350/2024/DS-PT

Ngày: 31- 7 - 2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Cường.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Phạm Văn Tâm.
  2. Bà Phạm Thị Hồng Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Thuý - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và 31 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 101/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST, ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 215/2024/QĐ-PT, ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Lê Khánh B, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ký ngày 21-7-2023) - (có mặt).

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1955 và ông Trần Văn X, sinh năm 1951; nơi cư trú: tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh - (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: bà Lê Thị Kiều D, Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Duy H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn V, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (anh V được Bệnh viện T xác nhận bị rối loạn loạn thần cấp và nhất thời, đã chết);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh V: Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1955 và ông Trần Văn X, sinh năm 1951; nơi cư trú: Tổ H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là người giám hộ (cha, mẹ anh V) - có mặt.

* Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị P, ông Trần Văn X là bị đơn;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 6 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cùng người đại diện hợp pháp bà Lê Thị C trình bày:

Bà là mẹ ruột của anh Nguyễn Lê Khánh B. Vào năm 2019 anh Nguyễn Lê Khánh B có nhận chuyển nhượng diện tích đất từ ông Ngô Tôn Q và bà Lê Thị H1 diện tích đất ngang 05 m x dài hết đất = 235 m², giá chuyển nhượng 80.000.000 đồng/01m ngang, khi thỏa thuận chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng giấy viết tay do bà viết, nhưng khi đến công chứng thì bà H1 trả lại giấy viết tay và bà đã hủy bỏ, không còn giữ.

Khi nhận chuyển nhượng bà H1, ông Q giao cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên không tiến hành đo đất nhưng có đến vị trí đất, lúc này là đất trống.

Anh B đã trả tiền đủ cho bà H1, ông Q đến ngày 12-4-2021 anh B cùng ông Q, bà H1 đến Phòng C3, tỉnh Tây Ninh công chứng hợp đồng chuyển nhượng và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08-8-2022 do anh Nguyễn Lê Khánh B đứng tên (chỉnh lý trang 4).

Từ khi nhận chuyển nhượng đất từ bà H1, ông Q thì anh B chưa được sử dụng đất, đến ngày 25-11-2019 ông X, bà P đổ đất và gạch để xây nhà thì người dân xung quanh báo, lúc này do anh Khánh B chưa được cấp giấy nên yêu cầu bà H1, ông Q vào ngăn cản, sau đó hai bên đều có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã G, kết quả giải quyết không thành nên năm 2020 bà H1, ông Q nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, trong thời gian này bà P, ông X vẫn tiếp tục xây nhà. Trong thời gian Tòa án giải quyết, Thẩm phán có giải thích bà H1, ông Q được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được quyền chuyển quyền cho người khác nên bà H1, ông Q rút đơn khởi kiện về làm thủ tục chuyển quyền cho anh B.

Khoảng cuối năm 2022 thì anh Khánh B làm thủ tục chuyển quyền cho anh Lê Tuấn K và chị Nguyễn Thị Thiên K1 nhưng bà P ngăn cản nên không làm thủ tục chuyển quyền được. Do đó nay anh Khánh B mới tiếp tục khởi kiện yêu cầu ông X, bà P trả lại diện tích đất theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 đo vẽ ngày 13-01-2022, có diện tích là 463,5 m², thuộc thửa 29, tờ bản đồ 23 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 454 m²). Lý do tăng diện tích đất là do trước đây có đường xe bò giáp ranh đất nhưng không ai sử dụng nên địa chính đã làm thủ tục tăng diện tích cho anh Khánh B, việc điều chỉnh biến động tăng giảm diện tích đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh Khánh B được cấp thì Ủy ban nhân dân xã T có thông báo niêm yết).

Đối với tài sản trên đất, khi bà P, ông X xây cất và trồng cây thì ông Q, bà

H1 có đến ngăn cản nhưng ông X, bà P vẫn cố tình thực hiện thì tự tháo gỡ, di dời trả lại diện tích đất cho anh B.

Đối với kết quả đo đạc đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 đo ngày 13-01-2022 được Ủy ban nhân dân xã T và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác nhận thì anh B thống nhất không yêu cầu đo đạc lại.

Ngoài ra, anh B cũng thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản tranh chấp và tài sản trên đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Thẩm định giá MHD định giá.

Đối với việc anh Khánh B chuyển nhượng diện tích đất trên cho anh K, chị K1 thì ngày 18-10-2023 hai bên đến Văn phòng C4, tỉnh Tây Ninh ký hợp đồng hủy bỏ và đã xử lý xong không còn liên quan đến anh K và chị K1.

Tại các lời khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Văn X có ý kiến:

Phần đất anh B tranh chấp thuộc thửa 29, tờ bản đồ số 23, vị trí tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trước đây do bà H1 đã khởi kiện vợ chồng ông nhưng sau đó rút đơn lại. Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 23-02-2021 thì thửa đất này do bà H1 đứng tên, đăng ký và hiện nay bà H1 chuyển nhượng cho anh Nguyễn Lê Khánh B. Trên phần đất này, vợ chồng ông đã xây nhà cấp 4, có diện tích ngang khoảng 04 m, giáp ranh về hướng Tây là phần đất của vợ chồng ông thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 23. Toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 29, tờ bản đồ 23 có nguồn gốc do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L vào năm 2016, hai bên có lập hợp đồng viết tay, không có công chứng, chứng thực. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng bà L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L giao đất cho vợ chồng ông quản lý sử dụng cho đến nay (hiện nay bà L ở đâu không biết). Sau khi nhận chuyển nhượng đất vợ chồng ông có đến Ủy ban nhân dân xã T kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được Ủy ban nhân dân xã T làm hồ sơ.

Trước đây, bà H1 có gửi đơn đến Công an yêu cầu giải quyết nhưng không được, sau đó vợ chồng ông mới gửi đơn thưa vợ chồng bà H1 tại Ủy ban nhân dân xã T nhưng khi Uỷ ban nhân dân xã mời đến giải quyết thì vợ chồng bà H1 không đến nên vợ chồng ông không tiếp tục yêu cầu giải quyết nữa mà bỏ luôn cho đến nay.

Từ khi bà L giao đất cho vợ chồng ông thì vợ chồng ông quản lý, sử dụng đến nay, vợ chồng bà H1 không quản lý, sử dụng ngày nào. Khi vợ chồng ông nhận đất do đất trũng nên đã đổ 20 xe đất mới có hiện trạng như hôm nay và 02 xe cát để xây nhà. Hiện nay, ranh đất giữa thửa đất số 29 (thửa đang tranh chấp) với thửa đất số 28 do bà M1 đang quản lý, sử dụng có trụ ranh hàng rào lưới B40 (do bà M1 xây dựng) ranh đất giữa thửa đất số 29 với thửa đất số 30 (của vợ chồng ông) không có ranh.

Trước khi vợ chồng bà H1 tranh chấp đất với vợ chồng ông thì vợ chồng bà H1 có tranh chấp đất với ông C1 giáp thửa đất 30 của vợ chồng ông nhưng không biết kết quả thế nào, hiện nay diện tích đất bà H1 tranh chấp với ông C1 thì con

ông C1 là anh M đang quản lý, sử dụng nên ông khẳng định vợ chồng bà H1 không có đất tại khu vực này.

Nay vợ chồng ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh B, vì trước đây bà H1 tranh chấp với vợ chồng ông chưa có kết quả mà tự rút đơn và chuyển nhượng cho anh B, anh B là người mua đất mà không xem xét đất có hay không thì tự giải quyết với bà H1.

Đối với kết quả đo đạc đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 đo ngày 13-01-2022 được Ủy ban nhân dân xã T và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T xác nhận thì vợ chồng ông thống nhất không yêu cầu đo đạc lại. Tuy nhiên, phía sau đuôi diện tích đất này bà Nguyễn Thị Tuyết M1 có xây hàng rào lấn chiếm một phần diện tích nhưng không biết bao nhiêu, việc này vợ chồng ông sẽ tranh chấp với bà Mai S.

Ngoài ra, vợ chồng ông thống nhất với kết quả thẩm định giá tài sản tranh chấp và tài sản trên đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn Thẩm định giá MHD định giá. Tại thời điểm bà H1 khởi kiện vợ chồng ông thì trên đất có 03 cây mít, 07 bụi chuối, 02 cây dừa, 01 cây xoài nhưng hiện nay chỉ còn 02 cây mít, 01 cây xoài và một số cây mai nhỏ. Đối với cây trên đất không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn bà Huỳnh Thị P có ý kiến: Bà là vợ ông Trần Văn X, bà thống nhất lời trình bày của ông X, không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn V được Bệnh viện T xác nhận bị rối loạn loạn thần cấp và nhất thời nên không có ý kiến. Ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P là người giám hộ cho anh V trình bày: Anh Trần Văn V đã bị bệnh từ nhỏ, hiện sống chung với ông bà và ông bà cũng là người chăm sóc, đưa anh V đi điều trị bệnh, hiện nay anh V vẫn còn uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Căn nhà cấp 4 ông, bà xây trên phần đất tranh chấp là cho V ở một mình, nhưng ông bà là người quản lý, vì anh V ở chung nhà với ông bà thì thường hay phát bệnh và đập phá đồ dùng trong nhà. Do đó, ông bà mới cho anh V ở một mình trong căn nhà này.

Bản án sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, quyết định:

Căn cứ vào các Điều 158, 166, 189 của Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 101, 203 của Luật Đất đai; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Lê Khánh B đối với ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P về tranh chấp quyền sử dụng đất. Buộc ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P trả lại cho anh Nguyễn Lê Khánh B diện tích đất thuộc tờ bản đồ số 23, thửa đất số 29, diện tích 463,5 m² (trong đó có 38,6 m² QHLG), có tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 28; hướng Tây giáp thửa đất số 30 (phần đất khác của ông X, bà P); hướng Bắc giáp thửa đất số 529; hướng Nam giáp đường ĐT.781B.NHỰA. Vị trí đất thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông X,

bà P đang quản lý, sử dụng. Tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà cấp 4, có diện tích 45,6 m², xây năm 2019 và 02 cây mít, 01 bụi chuối, 02 cây dừa chưa có trái, 03 cây xoài, 01 cây dâu (Kèm theo Sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH T1 và bản đồ Miền Nam đo vẽ ngày 13-01-2022, được Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T xác nhận).

Buộc anh Nguyễn Lê Khánh B có nghĩa vụ trả lại cho ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P giá trị căn nhà cấp 4 là 125.931.240 (một trăm hai mươi lăm triệu, chín trăm ba mươi một nghìn, hai trăm bốn mươi) đồng và giá trị 20 xe đất là 24.000.000 (hai mươi bốn triệu) đồng. Tổng cộng 149.931.240 (một trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm ba mươi một nghìn, hai trăm bốn mươi) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Yêu cầu kháng cáo: bà Huỳnh Thị P và ông Trần Văn X yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê Khánh B đối với diện tích đất 463,5 m², thuộc tờ bản đồ số 23, thửa đất số 29, vị trí đất thửa đất thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • + Ông X và bà P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với nội dung trên.
  • + Người đại diện theo uỷ quyền cho anh Khánh B không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của ông X, bà P. Yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • + Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông X, bà P trình bày: phần đất tranh chấp do ông X và bà P sang nhượng từ bà Nguyễn Thị L và quản lý sử dụng từ năm 2016 đến nay, có trồng cây ăn trái và xây nhà cấp 4 trên đất. Bà H1, ông Q không sử dụng phần đất này, năm 2019, bà H1, ông Q sang nhượng lại cho anh Khánh B diện tích 235m 2, năm 2020 giữa bà H1, ông Q với bà P có tranh chấp nhưng các bên rút đơn Toà án đình chỉ xét xử vụ án, năm 2022 anh Khánh B chuyển nhượng cho anh K, chị K1 đã được chỉnh lý trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó anh Khánh B không có quyền khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Khánh B và đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

  • - Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bà Huỳnh Thị P và ông Trần Văn X; sửa bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê Khánh B, anh Nguyễn Lê Khánh B được quyền sử dụng diện tích 235 m² đất theo giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số H4005...1199/QĐ-UB cấp ngày 13/7/2009 do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà H1 và ông Q đã được chỉnh lý tại trang 4 của Giấy chứng nhận. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Lê Khánh B đối với diện tích đất 219 m² do các cơ quan quản lý đất đai chỉnh lý biến động tăng diện tích không đúng pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng:

đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị P và ông Trần Văn X làm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bà bà Huỳnh Thị P và ông Trần Văn X, thấy rằng:

Bà P và ông X yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê Khánh B đối với diện tích đất 463,5 m², thuộc tờ bản đồ số 23, thửa đất số 29, vị trí đất thửa đất thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, cho rằng phần đất này ông chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L, đổ đất xây nhà cấp 4 và trồng cây ăn trái. Xét việc chuyển nhượng giữa bà P, ông X.

Năm 2006 bà H1 và ông Q được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 235 m² (ngang 5 m x dài 47 m), nhưng không có quản lý sử dụng, đến năm 2019 do ông X, bà P đổ đất xây nhà, trồng cây ăn trái, thì bà H1 khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án kết quả đo đạc thực tế phần đất này có diện tích 463,5 m² tăng diện tích 219 m² (lý do tăng diện tích đất do cạnh bên đất có đường xe bò ngang 3m không ai sử dụng). Sau đó, bà H1 rút đơn khởi kiện về chuyển nhượng diện tích đất này cho anh Nguyễn Lê Khánh B và anh B đã được điều chỉnh trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà H1, ông Q và có yêu cầu khởi kiện tranh chấp với ông X, bà P.

Ông X, bà P chuyển nhượng phần đất này từ bà Nguyễn Thị L từ năm 2016, có làm giấy viết tay không có công chứng, chứng thực, không xác định được vị trí, diện tích đất bao nhiêu, đất ở đâu là không đúng với quy định của Luật Đất đai và quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà H1, ông Q chuyển nhượng phần đất diện tích 235 m², ngang 5 m x dài 47 m từ bà C2 và ông S1 từ năm 2006, đến năm 2009 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 21/4/2021 bà H1, ông Q ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phần đất này cho anh Khánh B, nhưng xác định đất hiện thực tế là 463,5 m² (có 219 m² đất chưa được cấp giấy), Văn phòng công chứng, chứng thực cho bà H1, ông Q sang nhượng luôn phần đất chưa được cấp giấy là vi phạm pháp luật, bà H1, ông Q chỉ được phép chuyển nhượng phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến ngày 24/8/2022, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T2, chỉnh lý trang 4 anh Khánh B được quyền sử dụng đất 463,5 m² trên cơ sở xác minh của địa phương về tứ cận cũng như đất không có tranh chấp để điều chỉnh biến động là không đúng với quy định tại Điều 95 và Điều 98 Luật Đất đai và Nghị định 43/NĐ-CP 2013 của Chính Phủ. Tại phiên toà phúc thẩm bà P, ông X xác nhận việc thông báo diện tích đất tăng không có tranh chấp ông, bà không biết; ký tứ cận bị do bà M1 lừa ký để vay vốn. Quyết định số: 75/2022/QÐST-DS ngày 20/6/2022 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đình chỉ giải quyết vụ án giữa nguyên đơn bà Lê Thị H1, bị đơn bà Huỳnh Thị P, ông Trần Văn X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Lê Khánh B, có ghi rỏ các đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định pháp luật.

Việc tăng diện tích 219 m² đất cho bà H1, ông Q sau đó chuyển nhượng cho anh B là không đúng với quy định pháp luật về chỉnh lý biến động diện tích đất (trước đây bà L sử dụng nhưng không xác định bà L hiện ở đâu, ông X, bà P sử dụng từ năm 2016 đến nay; còn bà H1 ông Q không sử dụng phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2006 đến nay). Ủy ban nhân dân xã T và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T2 không xem xét quá trình sử dụng đất của bà H1, anh B, hai bên tranh chấp đất này từ năm 2020 đến nay nhưng căn cứ vào thông báo của xã T đất không tranh chấp để tăng diện tích 219 m² đất cho anh B là không đúng với quy định pháp luật về đất đai. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét yếu tố này mà quyết định buộc ông X, bà P phải trả lại diện tích đất 463,4 m² là chưa có căn cứ vững chắc.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà P, ông X; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê Khánh B. Anh Khánh B được quyền sử dụng đất theo sử dụng diện tích 325 m² đất theo GCNQSDĐ số H04005...1199/QĐ-UB cấp ngày 13/7/2009 do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà H1 và ông Q được chỉnh lý trang 4 ngày 18/8/2022 (có sơ đồ kèm theo). Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T2 có trách nhiệm điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho đúng với diện đất anh Khánh B chuyển nhượng. Phần diện tích đất tăng 219 m² cơ quan quản lý đất đai tại địa phương xem xét ai có đủ điều kiện cấp đất thì cấp theo quy định pháp luật.

Trên đất tranh chấp có căn nhà cấp 4 do ông X, bà P xây trái phép cho anh V ở, lấn qua phần đất anh Khánh B được quyền sử dụng có diện tích ngang 1,75 m x dài 6,9 m. Vì vậy, buộc ông X, bà P phải tháo dỡ trả lại đất cho anh Khánh B phần diện tích đã lấn chiếm.

Việc ông X, bà P tự ý đổ 20 xe đất trên diện tích đất chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng nên Toà án không xem xét giải quyết.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí:

các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P;

Sửa bản án sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào các Điều 158, 160, 166, 189, 190, 191 của Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 101, 203 của Luật Đất đai; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

  1. Chấp chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Lê Khánh B đối với ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

    Anh Nguyễn Lê Khánh B được quyền sử dụng diện tích 325 m² đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04005...1199/QĐ-UB cấp ngày 13/7/2009 do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp cho bà H1 và ông Q được điều chỉnh tại trang 4 của giấy chứng nhận

    (có sơ đồ kèm theo)

    Ông X, bà P có tránh nhiệm tháo dỡ một phần diện tích căn nhà cấp 4 ngang 1,75 m x dài 6,9 m để trả lại diện tích đất cho anh Nguyễn Lê Khánh B.

    Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T2 có trách nhiệm điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04005...1199/QĐ-UB do UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 13/7/2009 cấp cho bà H1 và ông Q được điều chỉnh trang 4 cho đúng quyết định này.

  2. Về chi phí tố tụng: Đã được xử lý xong tại Quyết định đình chỉ vụ án dân sự số: 75/2022/QĐST-DS, ngày 20-6-2022.
  3. Về án phí:

    Ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm dân sự.

    Anh Nguyễn Lê Khánh B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0008328 ngày 21 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xong.

    Trường hợp, bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 350/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 350/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Lê Khánh B yêu cầu ông Trần Văn X, bà Huỳnh Thị P trả lại cho anh diện tích đất thuộc tờ bản đồ số 23, thửa đất số 29, diện tích 463,5 m2 (trong đó có 38,6 m2 QHLG).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger