|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 350/2022/HSST Ngày: 15/12/2022 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Khoe
- Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 297/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự số 41/TB-TA ngày 07/12/2022, đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh năm 1997, tại thành phố Cần Thơ; HKTT: ấp Th, xã X, huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ; Nơi ở trước khi bị bắt: Đường S, Phường H, TPVT, Bà Rịa – Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Không; Họ và tên cha: Trần Văn Lâm, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1972; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 22 tháng 8 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP Vũng Tàu (có mặt)
Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1991; địa chỉ: đường B, Phường H, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 20/8/2022, Trần Văn N nhận được điện thoại từ đối tượng tên Trần Vũ N (SN:1993, Nơi thường trú: ấp Trường Điền, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu; Nơi ở: phòng trọ hẻm 1007 Đường 30/4, Phường 11, TP Vũng Tàu) nhờ Nam chở đến cảng Cát Lở gặp bạn bè. Nam đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ biển số 72F5-8948 đến đón Nguyên trên Đường 30/4 gần khu Công nghiệp Đông Xuyên. Sau đó, cả hai đi trên đường 30/4, Phường 11, TP Vũng Tàu theo hướng từ phường Thắng Nhất đi Eọ Ông Từ. Khi đi ngang qua địa chỉ số 869 Đường 30/4, Phường 11, TP Vũng Tàu, Nguyên phát hiện 01 chiếc xe mô tô BKS: 72C1-927.44 của anh Nguyễn Hoàng D (sinh năm: 1991, Nơi ở hiện nay: đường B, Phường S, TP Vũng Tàu) có sẵn chìa khóa trên xe đang dựng trước cửa hàng điện thoại Simvienthong.vn và không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nêu trên. Nguyên nói Nam vòng xe lại đi ngang qua nơi dựng chiếc xe phía trước cửa hàng điện thoại Simvienthong.vn để quan sát kĩ rồi cùng nhau bàn bạc về việc chiếm đoạt tài sản. Nguyên nói Nam giả vờ đi vào bên trong tiệm mua ốp lưng để Nguyên ở ngoài thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên và Nam đồng ý. Sau khi bàn bạc xong, Nam để Nguyên đi bộ từ phía đối diện cửa hàng, rồi điều khiển xe đến cửa hàng điện thoại. Nam vào bên trong cửa hàng điện thoại nói chuyện với chủ tiệm với mục đích làm cho chủ tiệm mất cảnh giác, không chú ý phía trước cửa tiệm để Nguyên nhanh chóng lấy xe và tẩu thoát. Vài phút sau, Nam quay ra không thấy chiếc xe Airblade đâu thì biết rằng Nguyên đã lấy được xe nên cũng đi ra ngoài và điều khiển xe chạy về, đi được một đoạn thì Nam gặp Nguyên rồi bàn việc đi tiêu thụ xe vừa chiếm đoạt được tại tỉnh Đồng Nai. Cả hai đi về nhà người yêu của Nam tại đường Lưu Chí Hiếu, phường Rạch Dừa để gửi xe mô tô biển số 72F5-8948. Sau đó, Nguyên điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được (BKS: 72C1-927.44) chở Nam đến Đồng Nai để tiêu thụ. Tại tỉnh Đồng Nai, Nguyên chở Nam đến phòng trọ bạn của Nguyên (chưa rõ lai lịch) để chờ và Nguyên cùng một người bạn khác đi tiêu thụ xe mô tô trên. Ngay sau khi tiêu thụ xong, cả hai bắt xe quay về TP Vũng Tàu.
Tại kết luận định giá tài sản số: 170/KL-HĐĐG-TTHS, ngày 08/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Giá trị xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 72C1-927.44 khi bị chiếm đoạt là 20.500.000 đồng.
Tại Cơ quan Công an, Nam đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. (Bút lục điều tra từ số 30 đến số 44)
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng trong vụ án:
01 nón lưỡi trai màu đen, trên nón có đính tấm kim loại hình chữ nhật có chữ “NEW” màu đỏ, vàng và đen; 01 đôi dép màu đen có chữ “ASIASPORTS” màu trắng; 01 quần lửng màu xanh đen, cạp quần trong có dòng chữ “1987 R# Fashion Derim". Những đồ vật này, Nam mặc trên người trong khi cùng đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
01 mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, biển số 72F5-8948; Số khung và số máy: 5HU-001576; là xe mô tô mà Nam cùng đồng phạm sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Nam khai nhận mượn xe từ một người quen ngoài xã hội tên Hiệp (chưa rõ lai lịch). Tiến hành xác minh, làm việc với chủ sở hữu xe trên tên Nguyễn Thế Dĩnh (Sinh năm: 1967; HKTT: 549/13 Nguyễn An Ninh, TP Vũng Tàu, tỉnh BR-VT), ông Dĩnh cho biết bản thân đã bán chiếc xe trên từ nhiều năm trước nên không có yêu cầu gì đối với chiếc xe trên.
01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 Model: TA-01174; IMEI 1: 35163945795017; là điện thoại của Nam sử dụng để liên lạc với đồng phạm là Trần Vũ Nguyên.
Các đồ vật trên hiện đã chuyển cơ quan Thi hành án dân sự quản lý chờ xử lý.
03 đoạn camera hình ảnh được niêm phong trong phong bì có chữ kí những người liên quan, có ghi nhận Trần Văn Nam cùng đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Anh Nguyễn Hoàng D yêu cầu bồi thường số tiền 25.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 299/CT-VKS ngày 31/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi Trộm cắp tài sản của Trần Vũ N, Cơ quan CSĐT công an TPVT đã ra Quyết định tách vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nam mức án từ 12 đến 15 tháng tù.
Về vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, biển số 72F5-8948; Số khung và số máy: 5HU-001576 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 Model: TA-01174; IMEI 1: 35163945795017.
Đối với 01 nón lưỡi trai màu đen, trên nón có đính tấm kim loại hình chữ nhật có chữ “NEW” màu đỏ, vàng và đen; 01 đôi dép màu đen có chữ “ASIASPORTS” màu trắng; 01 quần lửng màu xanh đen, cạp quần trong có dòng chữ “1987 R# Fashion Derim” Những đồ vật này, Nam mặc trên người trong khi cùng đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt sản, xét thấy những đồ vật này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000₫.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của người bị hại, phù hợp kết quả định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 20/8/2022, lợi dụng việc không có người trông coi xe tại trước cửa hàng điện thoại Simvienthong.vn tại 869 đường 30/4, Phường 11, TPVT, Trần Văn N cùng Trần Vũ N (hiện đang lẫn trốn) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô BKS: 72C1-927.44 của anh Nguyễn Hoàng D trị giá 20.500.000 đồng.
Bị cáo Trần Văn N đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản theo” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Trần Vũ N, do Nguyên đang lẫn trốn và chưa bắt được nên Cơ quan CSĐT công an TPVT đã ra Quyết định tách vụ án hình sự “Trộm cắp tài sản” để tiếp tục điều tra là có căn cứ. Đề nghị CQCSDT Công an thành phố Vũng Tàu tiếp tục điều tra để xử lý theo quy định.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Nên cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là đối tượng chưa có tiền án tiền, sự, đây là lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Hoàng D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 25.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Nam đồng ý bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền trên. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo Nam có trách nhiệm bồi thường cho Anh Nguyễn Hoàng D số tiền 25.000.000đ.
Trong quá trình điều tra và xử lý đối với Trần Vũ N, bị cáo Nam có quyền yêu cầu Nguyên có trách nhiệm liên đới cùng Nam bồi thường cho bị hại theo quy định của bộ luật dân sự.
[5] Về vật chứng:
Đối với 01 nón lưỡi trai màu đen, trên nón có đính tấm kim loại hình chữ nhật có chữ “NEW” màu đỏ, vàng và đen; 01 đôi dép màu đen có chữ “ASIASPORTS” màu trắng; 01 quần lửng màu xanh đen, cạp quần trong có dòng chữ “1987 R# Fashion Derim”. Những đồ vật này, Nam mặc trên người trong khi cùng đồng phạm thực hiện hành vi chiếm đoạt sản, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 mô tô hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ, biển số 72F5-8948; Số khung và số máy: 5HU-001576. Quá trình điều tra xác định, xe trên do ông Nguyễn Thế Dĩnh (Sinh năm: 1967; HKTT: 549/13 Nguyễn An Ninh, TP Vũng Tàu, tỉnh BR-VT) đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc ông Dĩnh khai đã bán xe trên cho người khác từ lâu. Cơ quan cảnh sát điều tra công an TP. Vũng Tàu đã đăng thông tin công khai tìm chủ sở hữu xe trên báo Bà Rịa-Vũng Tàu, đến nay đã quá 30 ngày kể từ ngày đăng thông tin tìm kiếm nhưng không có ai đến nhận. Xét thấy, đây là phương tiện mà Nam cùng đồng phạm sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 Model: TA-01174; IMEI 1: 35163945795017; là điện thoại của Nam sử dụng để liên lạc với đồng phạm là Trần Vũ Nguyên trong quá trình rủ nhau đi trộm cắp và tiêu thụ tài sản. Như vậy, xác định là phương phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 03 đoạn Camera ghi lại hình ảnh bị cáo trộm cắp tài sản tại số 869 đường 30/4, Phường 11, thành phố Vũng Tàu, là chứng cứ của vụ án nên lưu theo hồ sơ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5% án phí dân sự sơ thẩm trên tổng tiền phải bồi thường cho bị hại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2022.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn N có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Hoàng D số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hiếu |
Bản án số 350/2022/HSST ngày 15/12/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 350/2022/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn N bị xử phạt 12 tháng tù
