1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2023/DS-ST
Ngày: 31-10-2023
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thanh Hải;
- Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quốc Trung, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2023, và quyết định hoãn phiên tòa số 123/2023/QÐST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (A); trụ sở: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Giang Thanh N – Trưởng phòng Kế hoạch kinh doanh A -Chi nhánh C, An Giang; địa chỉ: số A, khóm A, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang; (theo giấy ủy quyền ngày 20/4/2023).
- Bị đơn: Ông Đặng Ngọc N1, sinh năm: 1980; địa chỉ nơi cư trú: tổ B, khóm B, phường C, thị xã T, tỉnh An Giang;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã A; trụ sở: xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
2
Ông Giang Thanh N vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Đặng Ngọc N1 và Ủy ban nhân dân xã A cùng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Ngân hàng N2 – Chi nhánh C trình bày: Ngày 31/11/2017, ông Đặng Ngọc N1 có ký hợp đồng tín dụng số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017, vay số tiền 130.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng ngày 30/10/2022, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức thanh toán 05 lần: Lần 1 ngày 30/10/2018 số tiền 20.000.000 đồng, lần 2 ngày 30/10/2019 số tiền 22.000.000 đồng, lần 3 ngày 30/10/2020 số tiền 25.000.000 đồng, lần 4 ngày 30/10/2021 số tiền 29.000.000 đồng, lần 5 vào ngày 30/10/2022 số tiền 31.000.000 đồng, trả lãi 06 tháng/lần vào ngày 30 trả dần hàng tháng.
Khi vay, Ủy ban nhân dân xã A đã ký hợp đồng bảo lãnh số 2710/2017/HĐBL-AH ngày 31/10/2017 để ông N1 ký khoản vay;
Trong quá trình vay, ông N1 đã trả lãi được 40.133.495 đồng, gốc được 75.562.555 đồng, sau đó ông N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như đã thỏa thuận, nên đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 31/10/2022; Ông N1 còn nợ lại Ngân hàng vốn gốc 54.437.445 đồng, lãi phát sinh tính đến ngày 31/10/2023 là 20.245.321 đồng;
Nên, Ngân hàng yêu cầu ông N1 có trách nhiệm trả vốn gốc và lãi còn nợ là 54.437.445 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 31/10/2023 là 20.245.321 đồng cho đến khi ông N1 trả hết nợ.
Bị đơn, ông Đặng Ngọc N1 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã A có văn bản với nội dung: Ngày 31/7/2017, Ủy ban nhân dân xã A có ký bảo lãnh hợp đồng vay vốn giữa ông Đặng Ngọc N1 (nguyên Phó Trưởng Công an xã A) với Ngân hàng A1 – Chi nhánh C; Hiện ông Đặng Ngọc N1 đã được giải quyết thôi việc theo nguyện vọng và đã giải quyết chính sách nghỉ việc theo quy định pháp luật, không còn công tác tại Ủy ban nhân dân xã A theo Quyết định số 9464/QĐ-UBND ngày 22/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên cho thôi giữ chức vụ Phó Trưởng Công an xã.
Đến ngày 01/10/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (nay thị xã) Tịnh Biên đã ban hành Quyết định số 3956/QĐ-UBND trợ cấp nghỉ việc theo Quyết định số 30/2012/QĐ-UBND ngày 03/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh A.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau:
3
- Về tố tụng:
+ Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS.
+ Hội đồng xét xử, Thư ký: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71; Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72, 73 BLTTDS năm 2015;
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 335, 342, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 – Chi nhánh C, buộc ông Đặng Ngọc N1 trả số tiền 74.682.766 đồng, tiếp tục tín lãi phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 01/11/2023 đến khi ông N1 hoàn tất thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền: Ngân hàng N2 khởi kiện yêu cầu ông Đặng Ngọc N1 trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017; Ông Đặng Ngọc N1 đang cư trú trên địa bàn thị xã T; nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[1.2] Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Ông Đặng Ngọc N1 và Ủy ban nhân dân xã A được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do, nên xét xử vắng mặt ông N1 và Ủy ban nhân dân xã A theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét thấy, ông Đặng Ngọc N1 có vay của Ngân hàng N2 - Chi nhánh C số tiền vốn gốc 130.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017, thời hạn vay 60 tháng, hạn trả cuối cùng ngày 30/10/2022, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn 12%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức thanh toán 05 lần: Lần 1 ngày 30/10/2018 số tiền 20.000.000 đồng, lần 2 ngày 30/10/2019 số tiền 22.000.000
4
đồng, lần 3 ngày 30/10/2020 số tiền 25.000.000 đồng, lần 4 ngày 30/10/2021 số tiền 29.000.000 đồng, lần 5 vào ngày 30/10/2022 số tiền 31.000.000 đồng, trả lãi 06 tháng/lần vào ngày 30;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông N1 đã trả lãi được 40.133.495 đồng, vốn gốc được 75.562.555 đồng, sau đó ông N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như đã thỏa thuận, nên đã chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 31/10/2022; Ông N1 còn nợ lại Ngân hàng vốn gốc 54.437.445 đồng, lãi phát sinh tính đến ngày 31/10/2023 20.245.321 đồng, việc ông N1 vay tiền đã được Ủy ban nhân dân xã A ký hợp đồng bảo lãnh cho khoản vay theo hợp đồng số 2710/2017/HĐBL-AH ngày 31/10/2017; sự việc này đã được Ủy ban nhân dân xã A thừa nhận theo Văn bản số 1072/UBND ngày 12/7/2023;
Từ cơ sở đó xác định ông Đặng Ngọc N1 có vay tiền và nợ tiền vay như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2;
Việc ông N1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Căn cứ Điều 5 hợp đồng tín dụng số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017, khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng ngày 17/6/2010, thì “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo đó, ông N1 sẽ tiếp tục chịu lãi theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017 đã ký kết cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản nợ;
[2.3] Theo quy định tại Điều 2 hợp đồng bảo lãnh số 2710/2017/HĐBL-AH ngày 31/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã A đối với khoản vay nợ của ông Đặng Ngọc N1, Ủy ban nhân dân xã A có trách nhiệm trừ các khoản thu nhập, tiền lương của ông Đặng Ngọc N1 và thông báo cho Ngân hàng xử lý thu hồi nợ từ tiền lương và các khoản thu nhập khác mà ông N1 được hưởng; Trường hợp nghĩ do buộc thôi việc, bỏ việc, chuyển công tác, chết, nghỉ theo chế độ chính sách, Thủ trưởng đơn vị cam kết với Ngân hàng T thực hiện việc thu nợ từ các khoản thu nhập khác của ông Đặng Ngọc N1.
Hiện nay, ông N1 đã nghỉ việc và đã được giải quyết chế độ chính sách theo quy định, nên Ủy ban nhân dân xã A có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng thu nợ từ các khoản thu nhập khác của ông Đặng Ngọc N1 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Từ những phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2 – Chi nhánh C.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng N2 – Chi nhánh C được Tòa án chấp nhận; Nên, ông Đặng Ngọc N1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng N2 – Chi nhánh C tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 335, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2019;
Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của Ngân hàng N2 – Chi nhánh C.
Buộc ông Đặng Ngọc N1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N2 – Chi nhánh C số tiền còn nợ phát sinh theo số 271/2017/HĐTD-AH ngày 31/10/2017 vốn là 54.437.445 (Năm mươi bốn triệu, bốn trăm ba mươi bảy ngàn, bốn trăm bốn mươi lăm) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 31/10/2023 là 20.245.321 (hai mươi triệu, hai trăm bốn mươi lăm ngàn, ba trăm hai mươi mốt) đồng.
Kể từ 01/11/2023, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí:
- - Ông Đặng Ngọc N1 phải chịu 3.734.000 (Ba triệu, bảy trăm ba mươi bốn ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm;
- - Hoàn trả cho Ngân hàng N2 – Chi nhánh C số tiền 1.735.000 (một triệu, bảy trăm, ba mươi lăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu số TU/2022/0009125 ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Ngân hàng N2 – Chi nhánh C có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Đặng Ngọc N1 và Ủy ban nhân dân xã A là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.
6
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 35/2023/DS-ST ngày 31/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 35/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A yêu cầu ông N trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số tiền 74.437445
