|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 35/2024/DS-ST Ngày: 31-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thạch Phới;
- Bà Trần Thị Thúy Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quốc Hi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLST-DS ngày 28/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-DS ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lữ Thị Thanh T, sinh năm: 1969 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn:
- Bà Cao Ngọc T1, sinh năm: 1976 (có mặt).
- Ông Châu Thanh B, sinh năm: 1975 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Lữ Thị Thanh T là nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/4/2019 (âm lịch) bà có làm đầu thảo 02 dây hụi loại 5.000.000 đồng, loại hụi ba tháng khui 01 lần, gồm 20 phần. Trong 02 dây hụi trên, vợ chồng bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B tham gia 03 phần (dây 01 tham gia 02 phần, dây 02 tham gia 01 phần) trong danh sách hụi ghi tên là “Châu T”, bà có giao danh sách hụi cho tất cả hụi viên theo dõi.
Ở dây 02, vợ chồng bà T1, ông B tham gia 01 phần. Bà T1, ông B đóng hụi sống được 01 lần rồi kêu hốt hụi ở lần khui thứ 02 vào ngày 26/7/2019, kêu 2.050.000 đồng, hốt được 56.100.000 đồng (đã trừ huê hồng cho đầu thảo), sau khi hốt hụi vợ chồng bà T1, ông B đóng hụi chết được 17 lần, đến lần khui thứ 20 thì không đóng nên bà đã đóng thay 01 lần (lần khui thứ 20) với số tiền hụi chết là 5.000.000 đồng. Hụi này nay đã mãn.
Nay bà yêu cầu bà T1, ông B trả lại cho bà số tiền nợ hụi tổng cộng là 5.000.000 đồng (ở dây 02, hụi mở ngày 26/4/2019 âm lịch), bà không yêu cầu tính lãi.
Bà Cao Ngọc T1 là bị đơn trình bày:
Bà thống nhất như lời trình bày của bà Lữ Thị Thanh T, bà thừa nhận hiện tại bà còn nợ bà T số tiền hụi tổng cộng là 5.000.000 đồng, đối với dây hụi số 02, hụi mở ngày 26/4/2019 (âm lịch), bà tham gia 01 phần, loại hụi 5.000.000 đồng/3 tháng, gồm 20 phần. Nay bà T yêu cầu bà trả cho bà T số tiền nợ trên, tổng cộng là 5.000.000 đồng thì bà đồng ý trả cho bà T.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà T yêu cầu ông Châu Thanh B cùng bà trả số tiền nợ hụi trên cho bà T thì bà T1 cho rằng ông B chồng bà chỉ biết việc bà có tham gia chơi hụi của bà T thôi còn việc bà tham gia chơi hụi của bà T ở dây hụi nào, hốt hụi, khui hụi ra sao thì ông B không biết. Đến khi bà không có khả năng đóng hụi chết được nữa thì bà mới ra gặp bà T thỏa thuận phương thức trả, và sau đó bà mới về nói lại chi tiết với ông B. Ý kiến của chồng bà ông Châu Thanh B vẫn đồng ý cùng bà đứng ra làm trả số tiền nợ hụi trên cho bà T, nhưng do ông B không đồng ý việc bà T khởi kiện danh tính chồng bà ra Tòa án và ông B không đồng ý ký tên vào các văn bản của Tòa án. Bà vẫn thừa nhận có tham gia các dây hụi trên do bà T làm đầu thảo và vẫn đồng ý trả toàn bộ số tiền hụi chết mà bà T đã đóng choàng thay cho bà.
Ông Châu Thanh B vắng mặt và không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 468, 471 Bộ luật Dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, bêu, phường;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lữ Thị Thanh T. Buộc bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải có nghĩa vụ trả cho bà Lữ Thị Thanh T số tiền nợ hụi chết thay là 5.000.000 đồng đối với dây hụi số 02, hụi mở ngày 26/4/2019 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/3 tháng, gồm 20 phần. Về án phí: Buộc bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Lữ Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải trả cho bà số tiền nợ hụi chết mà bà đã đóng choàng thay. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Bị đơn cư trú tại ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Châu Thanh B vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Châu Thanh B.
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình tố tụng bà Lữ Thị Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi chết mà bà đã đóng choàng thay là 5.000.000 đồng đối với dây hụi số 02, hụi mở ngày 26/4/2019 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/3 tháng, gồm 20 phần, do bà Lữ Thị Thanh T làm đầu thảo. Bị đơn bà Cao Ngọc T1 cũng thừa nhận bà có tham gia dây hụi trên và còn nợ lại bà T số tiền hụi là 5.000.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà T số tiền nợ hụi trên, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định bà T1 có tham gia góp hụi cùng bà T ở dây hụi mở ngày 26/4/2019 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/3 tháng, gồm 20 phần và còn nợ tiền hụi chết ở lần thứ 20 là 5.000.000 đồng. Vì vậy buộc bà T1 phải có trách nhiệm trả lại số tiền hụi chết của lần thứ 20 không đóng mà bà T đã đóng thay là có cơ sở.
[3] Đối với yêu cầu ông Châu Thanh B phải có trách nhiệm cùng bà T1 trả số tiền nợ hụi trên,
Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù mọi giao dịch góp hụi đều do bà T1 thực hiện, tuy nhiên giữa bà T1 và ông B hiện là vợ chồng hợp pháp và hiện đang sống chung cùng nhau, giao dịch góp hụi giữa bà T1 và bà T là giao dịch trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T1 và ông B. Hơn nữa bà T1 khai số tiền hốt hụi từ các dây hụi này bà sử dụng vào việc chi tiêu sinh hoạt trong gia đình, trang trải chi tiêu trong cuộc sống, trả tiền phân thuốc khi làm ruộng bị thất bát. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình buộc ông Châu Thanh B phải có trách nhiệm liên đới cùng bà Cao Ngọc T1 trả số tiền hụi cho bà T là phù hợp với quy định pháp luật.
Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lữ Thị Thanh T.
[4] Về án phí:
Căn cứ vào các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
[6] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 468, 471 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, bêu, phường;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lữ Thị Thanh T.
Buộc bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải có nghĩa vụ trả cho bà Lữ Thị Thanh T số tiền là 5.000.000 đồng với dây hụi số 02, hụi mở ngày 26/4/2019 (âm lịch), loại hụi 5.000.000 đồng/3 tháng, gồm 20 phần.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Buộc bà Cao Ngọc T1 và ông Châu Thanh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng.
Bà Lữ Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000968 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Trúc Linh |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
||
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Thạch Phới |
Trần Thị Thúy Phượng |
Dương Thị Trúc Linh |
Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng góp hụi
