Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 10-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Phước Tâm.
  2. Ông Lê Đình Thủ .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và điểm cầu thành phần tại Cơ sở điều trị nghiện tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TA-TB ngày 02 tháng 7 năm 2024; đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Kim P - sinh ngày 07/7/2000 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn Kim E, sinh năm 1965 và bà Lai Thị H, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không có. Về nhân thân: Ngày 13/12/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng (Đã chấp hành xong). Tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 19/01/2024; Tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tự nguyện cai nghiện tại cơ sở điều trị nghiệp tỉnh Đồng Tháp, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lai Thị H - sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại điểm cầu thành phần).

* Người làm chứng:

- Nguyễn Minh T - sinh năm 2004; Địa chỉ: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại điểm cầu thành phần).

- Lê Phương N - sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Mai Thanh H1 - sinh năm 2000; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Dương Văn K - sinh năm 1973; Địa chỉ: Khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Kim P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Kim P, sinh năm 2000 ngụ ấp H, xã N huyện C và Nguyễn Minh T, sinh ngày 15/8/2004 ngụ khóm M, thị trấn M, huyện C là bạn bè quen biết ngoài xã hội cùng làm thuê chung ở địa bàn thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/01/2024, Công an xã A, huyện C phối hợp cùng lực lượng quân sự tiến hành tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã. Khi đến khu vực Trường tiểu học A, thuộc ấp A, xã A, huyện C phát hiện Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô biển số 66N2-7324 chở Nguyễn Kim P ngồi phía sau, thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện nhưng T không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy đến trạm y tế xã A bị lực lượng tuần tra truy đuổi chặn lại. Do P đang có cất giấu ma túy trong người sợ bị bắt giữ nên nhảy xuống xe đồng thời ném nón bảo hiểm cùng bịch ma túy xuống đường chạy được 04 mét thì bị bắt giữ, riêng T bỏ xe chạy khoảng 80 mét thì bị lực lượng tuần tra tiến hành truy đuổi bắt giữ đồng thời trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra C Lãnh tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tạm giữ vật chứng và tài sản có liên quan của Nguyễn Kim P bao gồm: Túi nhựa trong suốt hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng; Cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 11cm được cho vào bì thư màu trắng, có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Công an xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp Lãnh tất cả được niêm phong có họ tên và chữ ký của Dương Hữu T1, Tống Thanh T2, Lê Phương T3, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Kim P, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị D; xe mô tô biển số 66N2-7324; quẹt gas màu vàng; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh và số tiền 450.000 đồng. Kiểm tra trên người của Nguyễn Minh T tạm giữ: Đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 19cm; quẹt gas màu xanh; điện thoại di động OPPO màu xanh, đen và số tiền 4.000.000 đồng.

Tại kết luận giám định số: 64 ngày 14/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ như sau: Tinh thể rắn chứa trong túi nhựa trong suốt hàn kín, được niêm phong trong bì thư nêu trên gửi đến giám định là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,321 gam loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Hoàn trả lại mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong bì thư được dán giấy niêm phong lại, ghi “Niêm phong số: 54, ngày 12/02/2024” có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Dương Hữu T1, Nguyễn Minh TNguyễn Kim P.

Qua kết quả xác định tình trạng nghiện đối với T và P đều dương tính với ma túy (Methamphetamine).

P khai nhận nguồn gốc ma túy trên do P mua của một người đàn ông tên “Nam”, không rõ nhân thân, lai lịch ở khu vực gần trường dạy nghề lái xe thuộc địa bàn phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, P sử dụng điện thoại thông qua mạng xã hội Facebook nhắn tin cho N để hỏi mua ma túy. P mua về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Do không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên không xác minh được. Cơ quan điều tra Công an huyện C chuyển tin báo cho Cơ quan điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đen và số tiền 4.000.000 đồng là tài sản cá nhân của Nguyễn Minh T không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành trao trả lại cho T, riêng đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 19cm; quẹt gas màu xanh không còn giá trị sử dụng nên T không có yêu cầu nhận lại.

Đối với xe mô tô biển số 66N2-7324 là của Lai Thị H mẹ ruột của Nguyễn Kim P mua lại của người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên, chị H đưa cho P làm phương tiện đi lại, không biết P sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành trao trả lại cho chị H.

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSHCL ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Kim P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim P với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và điểm a, khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên tịch thu tiêu hủy: Bì thư ghi “Niêm phong số: 54, ngày 12/02/2024” có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Dương Hữu T1, Nguyễn Minh TNguyễn Kim P. Tịch thu sung ngân sách nhà nước điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh. Tịch thu tiêu hủy Cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 11cm; quẹt gas màu vàng; quẹt gas màu xanh; đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 19cm; Trả lại cho Nguyễn Kim P số tiền 450.000 đồng.

* Bị cáo Nguyễn Kim P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng và không có ý kiến tranh luận gì đối với Luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Kim P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 19/CT-VKSHCL ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Chính bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,312 gam, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 12/01/2024 tại khu vực ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

[3] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.

[4] Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người và cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[6] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Kim P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[9] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[10] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[11] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với bì thư ghi “Niêm phong số: 54, ngày 12/02/2024” có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 - Công an tỉnh Đ” và có các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Dương Hữu T1, Nguyễn Minh TNguyễn Kim P. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh do bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng có chiều dài 11cm; quẹt gas màu vàng; quẹt gas màu xanh; đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 19cm là công cụ mà bị cáo dùng để sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với số tiền 450.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan gì đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Kim P.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[13] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim P 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 19/01/2024.
    • - Về hình phạt bổ sung: Không.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, tiêu hủy:
      • + 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi “Niêm phong số: 54, ngày 12/01/2024” có đóng hình dấu tròn màu đỏ của “Phòng K2 Công an tỉnh Đ”, có họ tên và chữ ký của Nguyễn Văn Bé N1, Võ Văn K1, Dương Hữu T1, Nguyễn Minh T, Nguyễn Kim P;
      • + 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 11cm; 01 quẹt gas màu vàng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 19cm, 01 quẹt gas màu xanh được niêm phong trong bì thư màu trắng có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có họ tên và chữ ký của Tống Thành T5, Dương Hữu T1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thanh T4, Lê Phương T3.
    • - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng được niêm phong trong bì thư màu trắng có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có họ tên và chữ ký của Tống Thành T5, Dương Hữu T1, Nguyễn Kim P, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thanh T4, Lê Phương T3.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Kim P số tiền 450.000 đồng.
    • (Các vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2024).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Kim P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - CA huyện Cao Lãnh;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Trường Chinh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim Phúc phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Phúc 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án nhưng trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 12/01/2024 đến ngày 19/01/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger